Sunday, March 15, 2020

G. K. Chesterton - Về tính bỉ lậu

Hầu hết chúng ta đều tự nhủ liệu mình có thể tìm ra một định nghĩa thực thụ về tính Bỉ lậu. Bởi nhìn chung thật khó để huỷ hoại, hay thậm chí phản kháng, một thứ mà ta không thể định nghĩa. Tôi hồ nghi, thoạt đầu, rằng ta có thể phát hiện, trong trường hợp từ này, một điều khó khăn hiện có khi nhìn vào vô số những từ hiện đại. Chúng được sáng chế sau thời của học thuyết và định nghĩa. Chúng may lắm thì có được tính nghệ thuật và chứa chan cả bầu không khí. Chúng bắt đầu tượng trưng cho những ấn tượng mạnh vốn khá là thực, nhưng lại tượng trưng chúng như những biểu tượng, đôi khi có tính thơ, đôi khi tuỳ tiện và ngẫu nhiên. Và tôi khá thích thú chuyện rằng, trong trường hợp của tính Bỉ lậu và những kí hiệu khác bằng ngôn từ, ta có thể thấy rằng sự điều tra này đã kết thúc một cách quái lạ. Khi ta thực sự đặt thành từ ngữ cái thứ mà ta có ý nói qua từ đặc thù này, có lẽ ta thấy được rằng nó là một từ thiếu chính xác hết sức vốn dành cho nó.

Do đó tính Bỉ lậu (Vulgarity), như một thói xấu mà tất cả chúng ta đều có thể cảm thấy khá là sinh động (tôi có thể hình dung vậy) trong bao sự vụ và tập tục quanh ta, lại không thực sự có nối kết với từ vulgus cổ xưa; càng không nối kết với cụm profanum vulgus [đám đông thường tình]. Nhân quần có những thói xấu riêng mình, nhưng nó không nhất định là bỉ lậu. Khối nhân loại này có những nhược điểm riêng mình, nhưng ta không nhất định phải cảm thấy những nhược điểm đó như là hành vi bỉ lậu. Cái thứ đặc thù mà ta có ý nói, hoặc đúng ra là cái thứ tôi có ý nói, khi tôi dùng từ này, là một thứ gì đó tinh tế hơn nhiều và cố nhiên độc hại hơn nhiều. Nhưng tôi thực sự không biết bất kì từ nào khác dành cho nó. Tôi có thể dễ dàng đưa ví dụ về nó từ báo giới, nhưng việc này hẳn sẽ là một cách khá rẻ tiền và bất công cho việc lấp đầy mấy trang sách trong cuốn sách này. Do vậy, bằng sự hấp tấp đúng nghĩa trong việc thí nghiệm này, tôi sẽ thử nêu ra bản chất thực sự của cái thứ mà tôi gọi là tính Bỉ lậu; và tôi ước gì mình biết được một cái tên tệ hơn dành cho nó.

Saturday, November 9, 2019

Margaret Atwood - Đây là một tấm ảnh chụp về tôi

Đây là một tấm ảnh chụp về tôi

Nó đã được chụp cách đây ít lâu.
Thoạt đầu nó tựa hồ như
bức in
vấy bẩn: nét nhoè rồi đốm xám
hoà cùng với mặt giấy;

rồi, khi bạn dòm
kĩ, bạn thấy ở bên tay trái chỗ góc
một thứ giống như một nhánh cây: một phần cái cây
(nhựa thơm hoặc vân sam) hiện ra
và, sang phía phải, lên nửa chừng
cái hẳn là một con dốc
thoải, một nhà gỗ bé

Ở cảnh nền sau có một cái hồ,
và xa bên kia, dăm đồi thấp.

(Bức ảnh này đã được chụp
cái ngày sau khi tôi chìm chết.

Tôi đương ở cái hồ, đương ở chính giữa
của bức ảnh này, ngay bên dưới bề mặt nước.

Thật là chuyện khó để nói ở đâu
cho đích xác, hay để nói
tôi lớn tôi nhỏ dường nào:
cái hiệu ứng nước gây nên
lên ánh sáng là sự bóp méo

nhưng nếu bạn nhìn lâu một hồi
sau cùng rốt tận
bạn sẽ có thể nhìn thấy được tôi.)

This Is a Photograph of Me

It was taken some time ago.
At first it seems to be
a smeared
print: blurred lines and grey flecks
blended with the paper;

then, as you scan
it, you see in the left-hand corner
a thing that is like a branch: part of a tree
(balsam or spruce) emerging
and, to the right, halfway up
what ought to be a gentle
slope, a small frame house.

In the background there is a lake,
and beyond that, some low hills.

(The photograph was taken
the day after I drowned.

I am in the lake, in the center
of the picture, just under the surface.

It is difficult to say where
precisely, or to say
how large or small I am:
the effect of water
on light is a distortion

but if you look long enough,
eventually
you will be able to see me.)

Saturday, September 28, 2019

Leigh Hunt - Cái chết của những đứa con nhỏ

Một nhà hiền triết Hi-lạp, khi được hỏi cớ sao ông lại khóc cho cái chết của con mình, bởi lẽ nỗi thống khổ ấy chỉ uổng công, đã đáp: “Tôi khóc chính vì duyên do đó.” Và câu trả lời trở thành lẽ minh trí của ông. Chỉ có hạng biện sĩ mới buông lời đoạn ngôn rằng chúng ta, với đôi mắt chứa cả nguồn châu lệ, không bao giờ cần nhượng lối cho chúng. Hẳn là thiếu minh trí khi không làm thế vào một số dịp nào đó. Nỗi thống khổ tháo mở chúng trong những lúc tâm trạng ấm nồng. Những cơn bùng lên đầu tiên có thể cay đắng và nặng lòng; nhưng mảnh đất mà tại đó chúng tuôn xuống hẳn sẽ xấu đi nếu thiếu chúng. Chúng làm tươi mát cơn nóng sốt của tâm hồn – nỗi sầu bi khô héo nó gây nứt nẻ dung nhan thành những luống cày, và khiến cho ta có thể bị “những cơn rung chuyển xác thịt” tệ hại nhất đời mình.

Thursday, December 20, 2018

Mario Vargas Llosa - Niềm khoái cảm trống không của bóng đá


Mấy năm trước, tôi nghe nói nhà nhân học Brasil Roberto da Matta có một bài giảng xuất sắc trong đó ông giải thích rằng tính phổ biến đại chúng của bóng đá – mà ngày nay vẫn còn mãnh liệt như nào giờ – biểu thị khát vọng thiên bẩm của con người ta về tính hợp pháp, tính bình đẳng và tự do.

Lập luận của ông khôn khéo và thú vị. Theo ông, công chúng xem môn bóng đá như là biểu tượng cho một xã hội kiểu mẫu, được cai quản bằng những luật lệ rõ rệt và giản đơn, là những thứ mà ai cũng hiểu và tuân theo và là những thứ, nếu chúng bị vi phạm, sẽ dẫn khởi ngay hình phạt cho bên phạm lỗi. Ngoại trừ việc là một vũ đài công bình, sân bóng đá là một không gian bình quyền vốn loại trừ tất cả sự ưu ái và đặc quyền. Tại đây, trên bãi cỏ được đánh dấu bằng những vạch kẻ trắng, mọi người đều được trọng thị bởi chính con người anh ta, bởi kĩ năng, lòng cống hiến, sự sáng tạo và tính hiệu quả của anh ta. Tên tuổi, tiền bạc và sức ảnh hưởng không hệ trọng gì khi ta xét đến chuyện ghi bàn và được nhận tràng vỗ tay hay tràng huýt sáo từ trên khán đài. Hơn nữa, cầu thủ bóng đá thực thi hình thức tự do duy nhất mà xã hội có thể cho phép các thành viên của mình nếu nó không tan rã: được làm bất kì việc gì họ thấy vừa ý miễn là việc đó không bị cấm đoán một cách tường minh bởi những điều lệ mọi người đã chấp nhận.

Sau cùng, đây là cái khuấy động nên những cơn nhiệt cuồng của đám đông, ở khắp thế giới, đổ xô vào sân, dõi theo bằng sự chú tâm hết mực những trận đấu trên truyền hình và tranh cãi đủ chuyện về những thần tượng bóng đá: lòng đố kị thầm kín, lòng hoài niệm trong vô thức về một thế giới—khác với cái thế giới họ sống vốn dĩ đầy sự bất công, bất bình đẳng và nhũng lạm, bị kìm kẹp trong tình cảnh vô pháp và bạo lực—thay vào đó sẽ mang đến một thế giới hài hoà, có pháp luật và bình đẳng.

Liệu cái lí thuyết tươi đẹp này là thật? Ước chi nó vậy, bởi lẽ rõ ràng lí thuyết này là thứ mê hoặc và không điều gì có thể tạo niềm lạc quan cho tương lai nhân loại hơn chuyện để những xúc cảm văn minh đó rúc mình trong những cõi bản năng thâm thiết nơi đám đông. Nhưng điều dễ xảy ra là rằng, như luôn luôn, thực tại thường vượt qua lí thuyết, chứng tỏ lí thuyết là thứ bất toàn. Bởi vì lí thuyết luôn duy lí, hợp luận lí, trí tuệ – thậm chí cả những lí thuyết đề xuất sự vô lí và sự điên rồ – và trong xã hội và trong hành vi cá nhân, phi lí trí, cái vô thức và tính tự phát thuần tuý sẽ luôn thủ một vai trò nhất định. Chúng là thứ vừa không thể tránh né vừa không thể đo lường.

Thursday, April 12, 2018

Voltaire – Đối thoại thứ chín. Về cảnh huống nô lệ của tinh thần


B
Nếu ông chấp nhận cảnh nô lệ thể xác, thì ít ra ông sẽ không tán thành cảnh nộ lệ của tinh thần, đúng chứ?

A
Xin đừng hiểu lầm nhau. Tôi không chấp nhận cảnh nô lệ thể xác nếu xét đó như một phần của các nguyên tắc trong xã hội. Tôi chỉ bảo rằng thà người bại trận bị bắt làm nô lệ còn hơn bị giết, ở trường hợp y chuộng mạng sống hơn tự do.
Tôi bảo rằng kẻ da đen bán mình là một kẻ dại, bảo rằng người cha da đen bán đi đứa con của mình là một kẻ rợ, nhưng bảo rằng tôi là một người rất hiểu lẽ đời khi mua anh da đen kia và cho anh ta làm việc ở đồn điền mía đường của tôi. Cái tôi bận lòng đến là anh ta phải khoẻ mạnh để có thể làm việc. Tôi sẽ lấy lòng nhân mà đối đãi với anh ta, và tôi sẽ đòi hỏi lòng cảm kích từ anh ta y như từ con ngựa của tôi, mà đối với nó tôi có bổn phận cho ăn yến mạch nếu tôi muốn nó có ích dụng gì đối với tôi. Tôi ở vào vị thế đối với con ngựa của mình cũng tương tợ như Chúa trời đối với con người vậy. Nếu Chúa trời cho con người sống đôi ba phút ở cái chuồng thế gian này, thì rõ ràng ngài cần chu cấp thức ăn cho con người, bởi lẽ thật phi lí nếu ngài ban cho con người cái tài cảm thấy đói và một cái bao tử, rồi lại quên cho con người ăn.

Monday, February 5, 2018

Lydia Davis - Bọn chuột

Bọn chuột sống giữa bốn bức tường nhà chúng tôi nhưng không quấy rầy nhà bếp. Chúng tôi lấy làm hài lòng nhưng không thể hiểu nổi tại sao chúng không vào bếp nhà chúng tôi, nơi chúng tôi đã đặt bẫy, như chúng vào bếp nhà hàng xóm. Mặc dù chúng tôi lấy làm hài lòng, nhưng chúng tôi cũng bực, bởi bọn chuột cư xử như thể có gì đó bất ổn ở bếp nhà chúng tôi. Điều làm cho việc này còn rối trí hơn nữa chính là chuyện nhà chúng tôi kém ngăn nắp hơn nhiều so với mấy căn nhà hàng xóm. Có nhiều thức ăn nằm đây đó trong bếp, nhiều mẩu vụn trên các kệ bếp và mấy mảnh hành tây bẩn thỉu bám vào chân tủ bếp. Thực tế có quá nhiều thức ăn rơi vãi trong bếp đến mức tôi chỉ có thể nghĩ rằng chính bọn chuột sẽ bị điều đó hạ gục. Trong một căn bếp ngăn nắp, quả là thách thức cho chúng để có thể tìm đủ thức ăn đêm này qua đêm nọ để sống cho đến lúc xuân về. Chúng kiên nhẫn săn lùng và nhấm nháp giờ này qua giờ nọ đến khi thoả ý. Tuy vậy, trong bếp nhà chúng tôi, chúng lại đối diện với một thứ quá ư vượt tầm mức so với kinh nghiệm của chúng đến nỗi chúng không thể đương đầu chuyện đó. Chúng có thể đánh bạo ra ngoài một mấy bước, nhưng rồi cảnh tượng và mùi bao trùm nhanh chóng khiến chúng chạy trở lại vào mấy cái hốc, lòng thấy khó chịu và lúng túng trước sự tình rằng chúng không thể bới tìm thức ăn như việc cần phải làm.

Đoàn Duy chuyển ngữ
Sài-gòn,
2018.02.05
Nguồn:
Davis, Lydia. (2001). Mice. Almost No Memory. Picador.


Friday, February 2, 2018

Christopher Goscha – Historical Dictionary of the Indochina War (1945-1954) – Các hiệp định Genève

Hội nghị Genève năm 1954 được xếp vào hàng những cuộc hội họp quốc tế quan trọng nhất trong lịch sử hệ thống quốc tế thời hậu Thế chiến II.
Cái chết của Joseph Stalin vào tháng Ba 1953 và vụ ngừng bắn tại Triều-tiên vài tháng sau đó là hai sự kiện mở đường cho mối quan hệ hữu hảo giữa Đông và Tây mà trước đó vốn rất căng bức ở khắp nơi trên địa cầu. Chiến tranh Triều-tiên nổ ra vào tháng Sáu năm 1950 đã thử thách khả năng của quân đội Liên hợp quốc do Mĩ dẫn dắt trong việc chống lại quân đội Trung-quốc và [Bắc] Triều-tiên do Xô-viết hậu thuẫn. Kể từ năm 1950, Trung-quốc và ở chừng mực ít hơn là Xô-viết đã hỗ trợ quân lực Việt-nam Dân chủ Cộng hoà chống lại quân của Liên hiệp Pháp, do Mĩ hậu thuẫn. Khi Stalin qua đời và súng ngừng bắn ở Triều-tiên, giới lãnh đạo mới trỗi lên ở Xô-viết đã tỏ bày tường minh rằng họ muốn giảm mối căng bức cả ở châu Âu lẫn châu Á để tập trung vào những vấn dề kinh tế nội bộ. Hoà hoãn là một cách để xúc tiến quá trình này. Đồng minh Trung-quốc của họ cũng có cùng quan điểm này. Chiến tranh Triều-tiên đã cho thấy Bắc-kinh bị rút cạn nguồn nguyên liệu lẫn nhân lực. Công cuộc tái cơ cấu triệt để về kinh tế và xã hội theo đường hướng cộng sản, bao gồm cuộc cải cách ruộng đất đã làm đất nước này suy kiệt. Bị Hoa-kì cô lập về đường ngoại giao, giới lãnh đạo Trung-quốc cũng cảm thấy rằng một hội nghị quyền bính lớn ở châu Á sẽ cho phép họ có kết cuộc được gia nhập dàn hợp tấu các quốc gia trên trường quốc tế. Xô-viết cũng đồng thuận với ý đó.
Người Pháp và người Anh đồng ý rằng đó là thời điểm chín muồi nhằm thuyên giảm mối căng bức trong hệ thống quốc tế. Năm 1953, tổng thống Pháp Joseph Laniel hiểu rằng Pháp không thể chu cấp cho Chiến tranh Đông-dương được nữa khi xét đến việc tạo dựng các mối cam kết quân sự với tuyến phòng thủ Tây Âu. Giữa năm 1953, Laniel điều Henri Navarre đến Đông-dương để tạo các điều kiện quân sự cần thiết nhằm hướng đến việc kết thúc trong danh dự cuộc Chiến tranh Đông-dương trên bàn đàm phán. Thuyên giảm mối căng bức với Đức là điều đầu tiên trong danh sách các chủ đề cần bàn thảo, khi những bộ trưởng ngoại giao của Pháp, Anh quốc, Xô-viết và Mĩ tề tựu ở Berlin vào đầu năm 1954. Tuy nhiên, tại Berlin, họ đã quyết định rằng cuộc họp kế tiếp, tổ chức ở thủ đô Genève của Thuỵ-sĩ, sẽ bàn thảo về hai điểm nóng toàn cầu trong hệ thống quốc tế, đều nằm ở châu Á—Triều-tiên và Đông-dương.