Saturday, November 19, 2022

Fernando Pessoa - Sách của nỗi bất an - 433

Những câu chữ tôi chẳng bao giờ viết ra cho đặng và những cảnh sắc tôi chẳng bao giờ thuật tả cho xong: vậy thì đưa lời rõ rệt dường bao cho cái nết chây ì của tôi đây nó biết chúng, vậy thì thuật tả chúng rõ rệt dường bao trong tâm tưởng của tôi khi mà, lúc đương tựa người vào ghế, mối ràng của tôi với đời thật quá là miên viễn. Tôi chạm đục thành các câu vuông vẹn, từng chữ rõ rành rành; những vở kịch với bao tuyến truyện đan kết được dựng lên trong trí óc tôi, tôi cảm thấy được chuyển động của con chữ và của nhịp vần trong những giai phẩm thơ nơi từng từ một và lòng nhiệt luyến hết mực, tự hồ một nô lệ vô hình, cứ lẩn trong màn đêm mà dò theo sau tôi. Nhưng nếu tôi rời đi một bước khỏi cái ghế, nơi tôi để ườn ra đó mấy cảm giác gần tròn đầy thế này, rồi di chuyển đến bàn đặng mà ghi chúng ra, thì chữ tháo chạy, kịch tiêu tùng, còn ở mối liên kết sống còn vốn liên hợp bao tiếng rì rầm có nhịp có điệu thì còn gì ngoài một niềm hoài vọng miên viễn, một vệt nắng chiếu trên mấy ngọn núi tít xa, một ngọn gió rung rung cành lá bên rìa sa mạc, một mối thân thuộc mải miết không thành hình, một cơn sướng khoái vui vầy nơi kẻ khác, và người đàn bà kia ta linh tính sẽ ngoái nhìn lại mà rốt cục lại không hề có trên cõi đời này.

Thảy mọi kế hoạch hình dung được, tôi đều làm cả. Bản Ilíada mà tôi soạn nên mang lấy một cấu trúc hợp lẽ, chính là sự kết nối tự nhiên các epodos [vĩ khúc] mà Homero không sao đạt được. Mức toàn hảo nghiêm nhặt mà tôi thể hiện ở mấy vần thơ chưa nên con chữ sẽ khiến cho sự tinh xác của Virgil trông lơ mơ và khiến cho uy lực của Milton trông èo uột. Văn châm biếm phúng dụ của tôi vượt hẳn Swift ở lối dùng biểu tượng tinh xác nhằm thể hiện các chi tiết đặc thù có liên hệ nhau. Biết bao nhiêu Verlaine tôi đã hoá thành.

Và mỗi lần tôi đứng dậy khỏi ghế, nơi những thứ này có một tồn tại vượt quá những giấc mơ đơn thuần, tôi lãnh chịu một bi kịch nhân đôi khi biết rằng chúng vô giá trị mà đồng thời cũng biết rằng thực tế chúng đâu phải là những thứ hoàn toàn trong cơn mơ và biết rằng một vệt nào đó sót lại từ chúng cứ lởn vởn mãi nơi ngưỡng cửa trừu tượng dẫn đến suy tư của tôi về chúng và sự tồn tại của chúng.

Tôi là hạng thiên tài trong cơn mơ hơn là trong đời sống. Đó là bi kịch của tôi. Tôi là người chạy bỗng ngã xuống ngay trước vạch đích đến, một kẻ dẫn đầu cuộc đua cho tới lúc ấy.

Đoàn Duy chuyển ngữ từ bản Anh văn

Tuesday, October 18, 2022

Fernando Pesso - Sách của nỗi bất an - 438

Tự do là khả năng có được sự cô độc. Ngươi chỉ được tự do nếu ngươi có thể thoái hưu khỏi người đời và cảm thấy không cần cầu vọng đến họ để có tiền, để tương giao, để có ái tình, để có vinh quang, hoặc thậm chí vì lòng hiếu kì, bởi không điều nào trong mấy thứ này sẽ phấn phát trong tịch lặng và cô liêu. Nếu ngươi không sống một mình nổi, thì ngươi sinh ra đã là nô lệ. Ngươi có thể có cho mình cái tinh thần và tâm hồn bạt tục: ngươi là một nô lệ cao thượng hoặc một nông nô túc trí: ngươi không hề tự do. Nhưng đó đâu phải bi kịch của ngươi, bởi việc sinh ra như thế chính là bi kịch của Vận mệnh. Dù vậy phiền rủi ập đến ngươi, nếu đời nặng gánh đè ép ngươi lâm vào cảnh nô lệ. Phiền rủi ập đến ngươi nếu, khi được sinh ra tự do và có thể sống đời tự túc và cô độc, mà cảnh bần khốn lại buộc ép ngươi nhập bọn cùng kẻ khác. Bi kịch ấy là của riêng ngươi, và ngươi phải chịu cảnh nó đeo đẳng luôn luôn.

Sinh ra tự do là đức lớn nhất của con người, nó khiến cho kẻ ẩn sĩ hèn mọn trở nên cao quý hơn bậc quân vương và cả bậc thần minh, những hạng tự phụ do cậy nhờ đến uy lực của họ chứ không do lòng khinh thị đối với uy lực ấy.

Cái chết là sự giải thoát vì chết là không cần đến một ai khác. Kẻ nô bần khốn thấy mình bị đẩy thoát khỏi bao khoái lạc, khỏi bao thống khổ, khỏi cái đời liên tục mãi mà y từng ham muốn. Kẻ quân vương thấy mình thoát khỏi các vùng lãnh địa mà lòng bất nguyện. Những đàn bà đi rải ái tình khắp chốn giờ thấy mình thoát khỏi bao cuộc chinh phục mà họ hằng mến yêu. Những kẻ đắc thắng thấy mình thoát khỏi bao thắng lợi mà đời họ được định sẵn sẽ đạt được.

Cái chết tôn quý cái xác kì khôi khốn khổ và khoác lên đó thứ phục sức lạ lẫm. Ở đó y là kẻ tự do, dẫu cho tự do nào phải cái y cầu đến. Ở đó ta có kẻ không còn là nô lệ, dẫu cho y khóc lóc vì mất đi cảnh nô dịch của mình. Kẻ quân vương có thể nực cười ở tư cách thường dân và thứ phù hoa lớn nhất đời y là cái vương danh ấy nhưng cũng nhờ cái danh đó mà y dẫu sao vẫn là kẻ cao quý, giống như kẻ chết, dù y có thể trông gớm ghiếc dường bao, cũng vẫn cao quý, bởi cái chết đã giải phóng y.

Mỏi mệt, tôi đóng các cửa chớp lại ở ô cửa sổ, tôi tống thế giới ra ngoài và tôi được tự do một lúc. Ngày mai tôi sẽ trở lại làm kẻ nô lệ; nhưng giờ đây, một mình, không cần ai, sợ rằng giọng nói nào đó hoặc hiện diện nào đó sẽ quấy nhiễu tôi, tôi có cho riêng mình khoảng tự do bé nhỏ, thời khắc thăng hoa của tôi.

Trên cái ghế chỗ tôi ngồi, tôi quên đi cái đời này nó áp bách tôi quá thể. Nỗi đau duy nhất tôi cảm thấy là việc tôi đã từng đau.

Friday, August 13, 2021

Viet Thanh Nguyen - Những năm chiến tranh

 Lời người dịch:

Truyện ngắn ‘War Years’ của Viet Thanh Nguyen là một truyện nằm trong tập The Refugees, với ấn bản Việt ngữ xuất bản chính thức ở Việt-nam dưới nhan đề Người tị nạn (dịch giả Phạm Viêm Phương chuyển ngữ). Tuy vậy trong ấn bản Việt ngữ này, truyện ngắn ‘War Years’, vì một số nguyên do dễ đoán và dễ hiểu, đã bị cắt bỏ hoàn toàn. Cách đây ít lâu, trên báo Văn nghệ xuất hiện bản dịch truyện ngắn này (dịch giả Võ Hương Quỳnh chuyển ngữ), thế nhưng đó là một bản dịch bị cắt xén và kiểm duyệt khá nhiều (chưa kể việc bản dịch đó nhiều chỗ dịch sai hoặc thiếu chính xác). Sau đó tôi có liên hệ với bác Phạm Viêm Phương, gợi ý bác nên đăng công khai bản dịch của mình lên một trang mạng nào đó, cho độc giả đọc được trọn vẹn nguyên văn không bị xén và kiểm duyệt. Thế nhưng bác chối từ, vì lẽ bản quyền không phải của bác. Tôn trọng ý bác, và cũng muốn độc giả đọc được bản dịch trọn vẹn, nên tôi quyết định dịch lại truyện này và đăng bản dịch của tôi ở nơi đây, với tư cách cá nhân chia sẻ cho thân hữu và độc giả nói chung. Bản dịch Việt ngữ này của tôi được thực hiện và đăng lên với sự đồng ý của tác giả Viet Thanh Nguyen.

 

***

Wednesday, December 2, 2020

Mario Vargas Llosa - Maradona và những anh hùng

 

Lời người dịch: Bài viết này được Vargas Llosa viết trong dịp World Cup 1982 tại Tây-ban-nha.


Bởi anh đã có lối chơi vô hồn trong trận mở màn gặp Bỉ, nhiều người khi ấy băn khoăn huyền thoại về Maradona từ đâu mà ra và tại sao nó vẫn còn kéo dài. Sau trận Argentina–Hungary, trận mà ngôi sao nhỏ người này sáng ngời từ đầu chí cuối với màn trình diễn kĩ năng tưng bừng, thì chẳng còn ai mang lòng hồ nghi gì nữa: Maradona là Pelé của thập niên 1980. Hơn cả thế: anh là một trong những vị thần sống mà con người tạo nên nhằm tôn thờ chính họ thông qua những vị thần này.

Trong một thời kì vốn sẽ ngắn ngủi như một định mệnh – bởi đây là triều đại tuyệt đối nhất và thoáng chốc nhất – anh chàng Argentina này giờ đây, đối với hàng triệu người khắp thế giới, chính là những gì mà Pelé, Cruyff, Di Stéfano, Puskas và một vài cầu thủ khác từng là, cũng trong thời khắc uy nghi ngắn ngủi nhất: sự hiện thân của bóng đá, vị anh hùng vốn là tượng trưng của môn thể thao này. Hàng triệu peseta, theo như lời đồn, được Barcelona trả để có chữ kí của anh, chính là một bằng chứng rõ rệt cho thấy Maradona đã tiếp lãnh tấm áo trọng trách này, và xét đến cái cách anh chơi trước đội Hungary, World Cup này sẽ cho thấy Barça đã có một vụ đầu tư tốt. Mười triệu đô-la là khoản tiền lớn để trả cho một con người trần mắt thịt giản đơn có nhiệm vụ đá đi quả bóng, nhưng chẳng là gì nếu cái họ mua là một huyền thoại.

Maradona là một huyền thoại vì anh chơi bóng theo lối diệu kì, cũng là vì tên anh và khuôn mặt anh ngay lập tức được khắc chạm vào kí ức và vì, bởi một lí do nào đó không thể đoán giải nổi vốn không liên hệ gì đến lí trí, anh thoạt nhìn có vẻ thông minh và dễ mến. Liệu ấn tượng này có liên hệ gì đến kích cỡ của anh? Trong trận gặp Hungary, lúc xem anh hoạt động chống chọi trước những hậu vệ chủng người Magiar to cao, những người trông thảm hại khi không thể kềm chân anh, người ta có ấn tượng khoan khoái rằng ở đó tồn tại điều phải lẽ vốn có; rằng trong bóng đá cũng vậy, đúng ra kĩ năng mới là thứ quan trọng hơn sức lực, rằng khi nói đến việc đá quả bóng thì điều trọng yếu ở đây không nằm ở sức mạnh, mà nằm ở trí tưởng tượng và ý tưởng.

Sunday, March 15, 2020

G. K. Chesterton - Về tính bỉ lậu

Hầu hết chúng ta đều tự nhủ liệu mình có thể tìm ra một định nghĩa thực thụ về tính Bỉ lậu. Bởi nhìn chung thật khó để huỷ hoại, hay thậm chí phản kháng, một thứ mà ta không thể định nghĩa. Tôi hồ nghi, thoạt đầu, rằng ta có thể phát hiện, trong trường hợp từ này, một điều khó khăn hiện có khi nhìn vào vô số những từ hiện đại. Chúng được sáng chế sau thời của học thuyết và định nghĩa. Chúng may lắm thì có được tính nghệ thuật và chứa chan cả bầu không khí. Chúng bắt đầu tượng trưng cho những ấn tượng mạnh vốn khá là thực, nhưng lại tượng trưng chúng như những biểu tượng, đôi khi có tính thơ, đôi khi tuỳ tiện và ngẫu nhiên. Và tôi khá thích thú chuyện rằng, trong trường hợp của tính Bỉ lậu và những kí hiệu khác bằng ngôn từ, ta có thể thấy rằng sự điều tra này đã kết thúc một cách quái lạ. Khi ta thực sự đặt thành từ ngữ cái thứ mà ta có ý nói qua từ đặc thù này, có lẽ ta thấy được rằng nó là một từ thiếu chính xác hết sức vốn dành cho nó.

Do đó tính Bỉ lậu (Vulgarity), như một thói xấu mà tất cả chúng ta đều có thể cảm thấy khá là sinh động (tôi có thể hình dung vậy) trong bao sự vụ và tập tục quanh ta, lại không thực sự có nối kết với từ vulgus cổ xưa; càng không nối kết với cụm profanum vulgus [đám đông thường tình]. Nhân quần có những thói xấu riêng mình, nhưng nó không nhất định là bỉ lậu. Khối nhân loại này có những nhược điểm riêng mình, nhưng ta không nhất định phải cảm thấy những nhược điểm đó như là hành vi bỉ lậu. Cái thứ đặc thù mà ta có ý nói, hoặc đúng ra là cái thứ tôi có ý nói, khi tôi dùng từ này, là một thứ gì đó tinh tế hơn nhiều và cố nhiên độc hại hơn nhiều. Nhưng tôi thực sự không biết bất kì từ nào khác dành cho nó. Tôi có thể dễ dàng đưa ví dụ về nó từ báo giới, nhưng việc này hẳn sẽ là một cách khá rẻ tiền và bất công cho việc lấp đầy mấy trang sách trong cuốn sách này. Do vậy, bằng sự hấp tấp đúng nghĩa trong việc thí nghiệm này, tôi sẽ thử nêu ra bản chất thực sự của cái thứ mà tôi gọi là tính Bỉ lậu; và tôi ước gì mình biết được một cái tên tệ hơn dành cho nó.

Saturday, November 9, 2019

Margaret Atwood - Đây là một tấm ảnh chụp về tôi

Đây là một tấm ảnh chụp về tôi

Nó đã được chụp cách đây ít lâu.
Thoạt đầu nó tựa hồ như
bức in
vấy bẩn: nét nhoè rồi đốm xám
hoà cùng với mặt giấy;

rồi, khi bạn dòm
kĩ, bạn thấy ở bên tay trái chỗ góc
một thứ giống như một nhánh cây: một phần cái cây
(nhựa thơm hoặc vân sam) hiện ra
và, sang phía phải, lên nửa chừng
cái hẳn là một con dốc
thoải, một nhà gỗ bé

Ở cảnh nền sau có một cái hồ,
và xa bên kia, dăm đồi thấp.

(Bức ảnh này đã được chụp
cái ngày sau khi tôi chìm chết.

Tôi đương ở cái hồ, đương ở chính giữa
của bức ảnh này, ngay bên dưới bề mặt nước.

Thật là chuyện khó để nói ở đâu
cho đích xác, hay để nói
tôi lớn tôi nhỏ dường nào:
cái hiệu ứng nước gây nên
lên ánh sáng là sự bóp méo

nhưng nếu bạn nhìn lâu một hồi
sau cùng rốt tận
bạn sẽ có thể nhìn thấy được tôi.)

This Is a Photograph of Me

It was taken some time ago.
At first it seems to be
a smeared
print: blurred lines and grey flecks
blended with the paper;

then, as you scan
it, you see in the left-hand corner
a thing that is like a branch: part of a tree
(balsam or spruce) emerging
and, to the right, halfway up
what ought to be a gentle
slope, a small frame house.

In the background there is a lake,
and beyond that, some low hills.

(The photograph was taken
the day after I drowned.

I am in the lake, in the center
of the picture, just under the surface.

It is difficult to say where
precisely, or to say
how large or small I am:
the effect of water
on light is a distortion

but if you look long enough,
eventually
you will be able to see me.)

Saturday, September 28, 2019

Leigh Hunt - Cái chết của những đứa con nhỏ

Một nhà hiền triết Hi-lạp, khi được hỏi cớ sao ông lại khóc cho cái chết của con mình, bởi lẽ nỗi thống khổ ấy chỉ uổng công, đã đáp: “Tôi khóc chính vì duyên do đó.” Và câu trả lời trở thành lẽ minh trí của ông. Chỉ có hạng biện sĩ mới buông lời đoạn ngôn rằng chúng ta, với đôi mắt chứa cả nguồn châu lệ, không bao giờ cần nhượng lối cho chúng. Hẳn là thiếu minh trí khi không làm thế vào một số dịp nào đó. Nỗi thống khổ tháo mở chúng trong những lúc tâm trạng ấm nồng. Những cơn bùng lên đầu tiên có thể cay đắng và nặng lòng; nhưng mảnh đất mà tại đó chúng tuôn xuống hẳn sẽ xấu đi nếu thiếu chúng. Chúng làm tươi mát cơn nóng sốt của tâm hồn – nỗi sầu bi khô héo nó gây nứt nẻ dung nhan thành những luống cày, và khiến cho ta có thể bị “những cơn rung chuyển xác thịt” tệ hại nhất đời mình.