Yanabu Akira
‘Liberty-Freedom’: Sự phản kháng của Yanagita Kunio
* “Jiyū: Yanagita Kunio no hanpatsu” 自由:柳田國男の反発, trong Yanabu Akira 柳父章, Honyakugo seiritsu 翻訳語成立事情 (Conditions surrounding the
formation of translated terms = Kiến lập tình huống nơi những từ ngữ được phiên
dịch) (Tokyo: Iwanami shinsho, 1994), tr. 173–91.
1. Jiyū 自由 [tự do], chữ nhầm chữ
Yanagita Kunio 柳田國男 (1875–1962) thuật lại hồi ức sau:
Xin cử ra một ví dụ, hồi lên năm lên
sáu, tôi gặp phải cụm “jiyū minken” 自由民權 (tự do dân quyền), ngay khi từ này tràn vào [Nhật] như cơn
sóng. Nhà tôi ở làng, ngày nọ một thanh niên cờ bạc say bí tỉ và ngủ gục ngay
trên ngưỡng cửa nhà chúng tôi, tịnh không động đậy. Tôi tìm cách nhờ người kéo
hắn đi, rồi người này người kia nắm lấy thân hắn và tìm cách nhấc hắn đi, lúc ấy
hắn la lên: “Quyền tự do của tôi” ( jiyū
no ken da 自由の權だ). Tôi nhớ rõ là hắn hét lên. Trải nghiệm
này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết
sức. Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc
phiền nhiễu. Trải một thời gian lâu sau đó, tôi không thể tự mình rũ bỏ lòng phản
cảm đối với Itagakia Taisuke (1837–1919), thủ lĩnh của Phong trào Tự do Dân quyền
thời đại đó.[1] (一つの例を舉げますと、私は五つ六つの頃に、丁度日本に「自由民權」といふ言葉が潮の如くに流れ込んで来る時代に遭遇致しまして、私の家は村でありますが、或日一人の若い博徒が泥醉して自分の家の門口に寢てしまつて動かぬ、それを立退かせようとして、内からも外からも色々な人が手を掛けて起さうとしますと、その人が「自由の權だ」といつて怒鳴つたことを記憶して居ります。これが自由といふ言葉に対する私達の概念を頗る混亂させまして、何だか非常に厭な困つたもののやうに感じ、久しい間その時代の自由民權運動の首領であつた板垣退助さんに対する反感のやうなものが拔け切らずに 居ります。)
Có hai thứ tôi
muốn lưu ý trong đoạn trích dẫn này. Thứ nhất là sự tình rằng, mặc dù say xỉn và ngủ thiếp đi ở
ngưỡng cửa nhà người khác, tay thanh niên cờ bạc ấy vẫn thốt rõ lên lời rằng:
“Quyền tự do của tôi”. Tôi đặc biệt lưu tâm đến cách từ jiyū được dùng
trong trường hợp này. Đây là một thuật ngữ được lưu hành thời điểm đó, và bấy
giờ người ta dùng nó ở nhiều tình huống khác nhau. Cũng có nhiều trường hợp mà
từ này được dùng không phù hợp, như tôi sẽ giới thiệu bên dưới. Nghĩa của nó
trong trường hợp như vậy không được người ta hiểu rõ. Vậy nên, ta có một từ có
nghĩa không được hiểu rõ, dầu vậy người ta sẵn lòng dùng nó và nó trở nên thịnh
hành. Như tôi đã lưu ý mấy lần, đây thường là một trong những kết quả đặc biệt
của các dịch ngữ.
Luận điểm còn lại của tôi phát xuất từ góc nhìn của Yanagita Kunio về sự cố này. “Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức”, ông viết như vậy. “Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu”. Dầu đây là một trải nghiệm thời ấu thơ, song “trải một thời gian lâu sau đó” sự này vẫn tiếp diễn. Khi nghĩa của một từ được nhiều người hiểu được, thì nhìn nhận của người ta về nó như một từ tốt hay xấu là điều trở nên hệ trọng cực kì. Trong trường hợp đây, từ này được liên hệ với một hành vi quyền hoạnh của tay thanh niên vô danh nọ. Song, đấy chưa phải tất cả, bởi lẽ bản thân từ jiyū vốn đã mang một nghĩa tiêu cực.
Nếu từ jiyū hưởng được một lịch sử rực sáng như hai từ freedom và
liberty bên phương Tây, thì lẽ ra nó không nên có liên hệ với loại hành vi ngạo
mạn như vậy. Chẳng hạn, khi tay cờ bạc nói rằng “Quyền tự do của tôi”, thì theo
lẽ tự nhiên ta hẳn trông mong phản ứng thế này: “Không, đó không phải ý nghĩa của
từ jiyū”.
Câu chuyện này xảy đến cách đây hơn một thế kỉ, nhưng
ngày nay chẳng phải ta thường xuyên đụng phải những chuyện kể tương tự vậy
trong vô số tình huống hay sao? Tôi thường nghe kể những trường hợp jiyū bị hiểu lầm. Ta có khuynh hướng nghĩ đến từ này theo
một lối hàm hồ: nếu được hiểu đúng đắn, nó mang ý nghĩa tích cực, và nếu bị hiểu
lầm thì nó có được ý nghĩa tiêu cực. Tôi cho là có gì đó lệch lạc ở đây. Vân đề
không phải ở cái cách người ta hiểu nó. Từ ngữ vốn bắt rễ trong tiếng mẹ đẻ và
do vậy có cho mình một lịch sử riêng thì từ ngữ ấy không phải bị “hiểu lầm”.
Từ jiyū mà bị “hiểu lầm” chính là dịch ngữ jiyū. Từ thuở kỉ nguyên hiện đại lai đáo, từ jiyū của chúng tôi là một hỗn hợp chứa đựng ý nghĩa như một
dịch ngữ từ các chữ Tây phương, như freedom và liberty trong Anh ngữ, đồng thời chứa đựng ý nghĩa của các
Hán tự được truyền lại từ bao đời. Nói một cách giản đơn, như một dịch ngữ Tây
phương, jiyū có ý nghĩa tích cực, còn ý nghĩa Đông Á truyền thống
của nó lại là tiêu cực.
2. Jiyū là một dịch ngữ kém
Trong bản phiên dịch Nhât ngữ của một tài liệu do toàn quyền
Hà-lan ở Java đệ lên mạc phủ vào cuối thời Edo, chúng tôi thấy câu sau: “Cái
hình thế của đại thiên thế giới đương ngày một hướng đến wagamama (willfulness) [tư ý]” (大千世界いやましに我ままに成りゆき候形勢これあり). Từ wagamama [我まま] là chữ Nhật dịch cho từ vrijheid, tức là liberty hoặc freedom trong Anh ngữ. Trong số các quan mạc phủ, nhiều người
hiểu đây nghĩa rằng những kẻ ngoại quốc kia đã theo tư ý mà mặc sức làm chuyện
cướp bóc lan tràn và không được phép bén mảng đến xứ Nhật-bản.
Liệu dịch vrijheid thành wagamama có phải là phiên dịch sai? Khi viết về lịch sử về
cách dùng từ jiyū, sử gia Tsuda Sōkichi 津田左右吉 (1873–1961) bắt đầu bằng
câu chuyện này.[2]
Trong một trường hợp xưa cũ
hơn nhiều, ta thấy trong Hậu Hán thư 後漢書 rằng trong mắt bọn loạn đảng Xích Mi thì vị hoàng đế –
mà chúng phò trợ và là kẻ có lối xử “tự do theo ý chúng ở muôn sự” (百事自由 bách sự tự do) – bị đám ấy xem như một đứa trẻ con. Về trường hợp Nhật ngữ,
chúng tôi đọc trong Đồ nhiên thảo 徒然草thấy rằng Jōshin Sōzu 盛親僧都 "là một kẻ ngỗ nghịch
coi khinh cõi đời, ở mọi sự đều có lối xử tự do, hiếm khi phục tòng ai” (世を輕く思ひたるくせものにて、よろづ自由にして、おほかた人に從ふといふことなし). Quả thực, có nhiều trường
hợp mà từ jiyū (Hán ngữ 自由) có nghĩa là buông lung hoặc theo tư ý.
Dẫu vậy, lại có những trường hợp từ này mang nghĩa
tích cực, nhất là lúc các vị thiền sư nói đến jiyū gedatsu 自由解脱 [tự do giải
thoát] nhằm biểu đạt ý được giải thoát vào trong một cõi mà người ta tự do
thoát khỏi các dục vọng trần thế. Từ này cũng có thể bao hàm một ý nghĩa mang
tính nghịch lí, một thứ đặc trưng của thiền học. Và từ jiyū trong văn bản Kitô giáo thường được dùng với ý rằng
linh hồn người ta sẽ được đấng Kitô giải thoát. Tsuda Sōkichi ức đoán rằng, có thể
đây là kết quả của chuyện các thiền sư dự phần vào việc phiên dịch văn bản Kitô
giáo. Ông kết luận:
Xét theo những dụng lệ kể
trên, trừ ra cái thấy được trong văn hiến Kitô giáo, thì từ jiyū phần đa chứa đựng ý nghĩa đáng
chê trách rành rành, kể cả khi từ này được dùng làm thuật ngữ pháp lệnh. Ngay cả
khi nó mang ý không chịu sự câu thúc, thường thì nó vẫn giữ lại cái nghĩa theo
tư ý mà đứng ngoài ước chế xã hội. Thành thử, thật khó lòng nhận từ đó làm thái
độ sinh hoạt của hạng người thông thường. Chuyện cũng giống vậy cả ở nghĩa xử
theo ý lòng bản thân mà có quan hệ đến tha nhân hay thế gian. Có những trường hợp
nó mang nghĩa tích cực, nhưng số ấy rất ít. Trong quyển Tây dương sự tình 西洋事情 tôi nhớ Fukuzawa nói rằng đối với từ liberty hay freedom thì bấy giờ chưa có dịch ngữ nào phù hợp, và jiyū nằm trong số những từ được nêu ra
dùng thử, nhưng ông lưu ý rằng nguyên ngữ [tức liberty hay freedom] không mang nghĩa tuỳ ý riêng và phóng đãng đến mức không sợ quốc pháp. Xem ra jiyū không phải
dịch ngữ đích đáng. (以上の用例でみると、キリシタン文獻に見えるものは別として、自由とふことばには、法令上の用語としてはいふまでもなく、その他のでも、何ほどか非南せられるやうな意義の含まれてゐるものの多いことが、知られるやうであろ。拘束をうけないといふばあひのでも、その多くは社會的制約の外に立たうといふ點で氣まゝな、もしくはわがまゝな、氣分があるから、一般人の生活態度としては承認しがたいものである。思ふまゝにするといふ意義でのでも、他人に關し世間に關することがらについていふばあひには、やはり同樣である。フクザワの西洋事情に、 リバチイまたはフリイダムにはまだ適當な譯語が無いといひ、さうして試に舉げたもののうちの一つに「自由」がある、それについて、原語は我儘放蕩で國法をも恐れぬとふ意義の語ではない、とわざ〽ことわってあることも、。思ひ出されよう。自由は實は適切な譯語ではないやうである。)
Trở lại trường hợp
phiên dịch vrijheid thành wagamama, việc phiên dịch ‘liberty’ và ‘freedom’
thành jiyū cũng không khác là bao.
Kì cùng, câu chuyện này kể ta biết rằng thật khó lấy
những chữ ta có sẵn trong tay và phiên dịch các thuật ngữ Tây phương sang Nhật
ngữ.
3. Jiyū là từ cần phải tránh
Từ jiyū có một lịch sử cổ xưa ở cả Trung-hoa lẫn Nhật-bản, và
lịch sử từ này như một dịch ngữ cũng khá xa xưa. Nó đã được dùng trong thư tịch
Kitô giáo (từ thế kỉ XVI và XVII), và cả trong Oranda jii 和蘭字彙 (Hoà-lan tự
vị, 1855–1858), ta thấy tính từ vrij (tự do) được chuyển dịch thành “jiyū naru”自由ナル, còn danh từ vrijheid thành “jiyū mata kakariai no naki koto”自由又掛リ合ノナキ事 (jiyū, không ràng buộc). Trong Ei-Wa taiyaku shūchin jisho 英和對譯袖珍辭書 (Anh-Hoà đối dịch tụ trân từ thư, 1862), từ Anh ngữ ‘liberal’
được dịch: “ogoru,
monooshimi senu, kokoro o uchiakeru, jiyū naru” オゴル、物惜ミセヌ、心ヲ打明ケル、自由ナル (kiêu hãnh, hào phóng [tức là liberal], cởi mở thẳng thắn — ấy là jiyū), và ‘liberty’ dịch thành “jiyū, kakariai no naki koto” 自由、掛リ合ノナキ事 (jiyū, không ràng buộc), theo dấu dẫn của Oranda jii. Đối với từ ‘free’, ghi là “jiyū, shōjiki naru,
yasuki, sawari naki” 自由ナル正直ナル、易キ、障リナキ (jiyū, chính trực, thuận tiện, không trở ngại), còn về từ ‘freedom’
thì ghi là “menkyo,
yurushi o uketaru koto, jiyū” 免許、免シヲ受タル事、自由 (đặc miễn, được phép, jiyū). Và, quyển Futsugo meiyō 佛語明要 (Phật ngữ
minh yếu, 1864) có ghi thế này cho từ liberal: “monooshimi senu” 物惜セヌ (hào phóng), và cho từ liberté: "jiyū, mono ni osorenu koto" 自由、物ニ恐レヌ事 (jiyū, không sợ điều chi).
Do vậy, mặc dầu
có một số đổi thay theo thời gian, tới những năm cuối cùng thời Edo, ít nhất
trong các tự vị, từ Nhật đặt bên cạnh từ Anh ‘freedom’ và ‘liberty’ càng lúc
càng trở nên thích đáng.
Dẫu vậy, vào
cuối thời Edo và Meiji, khi người ta sử dụng từ này trong quá trình khởi sự
phiên dịch đủ loại trước tác tư tưởng từ phương Tây, thì từ jiyū thoạt tiên được xem là một chữ dịch kém. Người đầu
tiên nói rõ việc này, như đã thấy ở đoạn trích dẫn ở trên từ Tsuda Sōkichi, chính là Fukuzawa
Yukichi. Ông đã nói điều sau trong quyển Seiyō jijō 西洋事情 (Tây dương sự tình, 1870):
Khi phiên dịch các sách Tây dương, thường không có những
chữ dịch thoả đáng, khiến cho người dịch khốn đốn ít nhiều. Thí như trong các
sách dịch tuy thường dùng từ jiyū để dịch ‘liberty’
và tsūgi 通義 [thông nghĩa] để dịch ‘right’,
song thực ra những chữ dịch này không đủ để truyền đạt nguyên ý. Tựu trung, đầu
sách này chép những nghị luận về hai từ jiyū và tsūgi, tôi sẽ chú
giải về ý nghĩa của hai từ này để tiện cho người đọc, như sau: (洋書を翻譯するに臨み、或は妥當の譯字なくして譯者の困卻すること常に少なからず。譬へば譯書中に往々自由原語「リベルチ」 通義原語 「ライト」 の字を用ひたること多しと雖ども、實は是等の譯字を以て原意を盡すに足らず。就中、此篇の卷首には專ら自由通義の議論を記したるものなれば、特に先づ此二字の義を註解して譯書を讀む者の便覽に供すること左の如し)
1. ‘Liberty’ nghĩa là jiyū: Hán nhân dịch từ này bằng những
từ như ‘tự chủ’ 自主, ‘tự chuyên’ 自專, ‘tự đắc’ 自得, ‘tự nhược’ 自若, ‘tự chủ tể’
自主宰, ‘nhiệm ý’ 任意, ‘khoan dung’ 寬容 và ‘thung dung’
從容. Tức là những
từ này vẫn không truyền đạt đuọc đầy đủ ý nghĩa nguyên ngữ. (第一「リベルチ」とは自由と云ふ義にて、漢人の譯に自主、自專、自得、自若、自主宰、任意、寬容、從容、等の字を用ひたれども、未だ原語の意義を盡すに足らず。)
Nói cách khác, chuyện không hẳn jiyū là chữ dịch kém mà đúng hơn là
không có chữ dịch tốt hay thoả đáng.
Dòng mở đầu của quyển Du contrat social [Khế ước xã hội] (1762) của Jean Jacques Rousseau (1712–1778) ghi rằng: “Con
người sinh ra tự do, và ở mọi nơi họ bị xiềng xích”. Câu này đã kích khởi lòng
muôn người khắp phương Tây. Dĩ nhiên, từng có nhiều phong trào chống lại áp bức
ở Đông Á và Nhật. Dầu vậy đây không chỉ là vấn đè về giải phóng khỏi xiềng
xích, mà thực tế rằng họ thiếu đi chính cái ngôn ngữ hòng nắm được điều này như
một giá trị mà người ta cần chủ động truy tầm và như một khái niệm cho chính bản
thân con người. Tôi nghĩ chính Fukuzawa, người đầu tiên ở Nhật cảm nhận điều
này tận thâm tâm, và chính ông là người khai mở lịch sử về sự phiên dịch khái
niệm này.
Tuồng như từ cuối thời Edo sang đầu thời Meiji, các
trí thức hàng đầu xứ Nhật đã chọn từ ngữ thật cẩn trọng khi họ gán các chữ dịch
cho các khái niệm. Về chữ jiyū, tuồng như họ đã tìm cách né tránh nó. Ta hãy
truy vết các nỗ lực của họ theo lối này.
Trong Bankoku
kōhō 萬國公法 (Vạn quốc
công pháp), một trước tác mà Nishi Amane 西周 (1829–1897) đã công bố năm 1868 (Keiō 4), ông đã dùng
jishu 自主 [tự chủ]; do
vậy, ta thấy: jinshinjō
jishu no shoken 人身上自主ノ諸權 (các quyền tự
chủ của nhân thân), kuni
no tokuritsu jishu no ken 國ノ特立自主ノ權 (quyền tự chủ
độc lập của quốc gia), cùng những cụm tương tự. Cùng năm đó, Tsuda Shin’ichirō 津田真一郎 (Mamichi 真道, 1829–1903),
người theo học ở Hoà-lan cùng với Nishi, cũng dùng dịch ngữ jishu như trong cụm jishu min fujishu min 自主民不自主民 (dân tự chủ và dân bất tự chủ) trong quyển Taisei kokuhō ron 泰西國法論 (Thái Tây quốc pháp luận).
Như Fukuzawa cũng có nói, jishu là một từ được dùng chủ
yếu trong bản dịch Trung văn. Dưới mục ‘liberty’ và ‘freedom’ trong Hoa-Anh tự điển 華英字典 (1822), Robert Morrison (1782–1834) ghi: “tự chủ chi
lí 自主之理”. Theo English and Chinese Dictionary (1847–1848) của Walter Henry Medhurst (1796–1847),
‘liberty’ được dịch: “tự chủ 自主, tự chủ chi lí 自主之理, nhiệm ý thiện chuyên 任意擅專, tự do đắc ý 自由得意, do đắc tự kỉ 由得自己, tự chu chi sự
自主之事”.
Trong quyển Rikken seitai ryaku 立憲政體略 (Lập hiến chính thể lược) năm
1868 (Keiō 4), Katō Hiroyuki 加藤弘之 (1836–1916) dùng những
từ jishu và jizai 自在 [tự tại]. Ông chép những cụm sau: “jishin jishu no kenri 自身自主ノ權利” (quyền lợi
của tự chủ tự thân), “shigen
jizai no kenri 思言自在ノ權利” (quyền lợi
của tự tại tư ngôn), và “shinpō
jizai no kenri” 信法自在ノ權利 (quyền lợi của tự tại tín pháp). Năm 1870, Katō viết quyển Shinsei taii
真政大意 [Chân chính đại ý] (Đại ý về chính quyền chân thật) trong đó ông đưa
vào tư tưởng chính trị dân chủ của phương Tây, và tại đó ông chủ yếu dùng từ “fuki 不羈” [bất ki] (không bị trói buộc | unfettered), và cũng dùng "fuki no jō 不羈ノ情" (tình
cảm không bị trói buộc | unfettered
affect) và "fuki
jiritsu no jō 不羈自立ノ情" (tình
cảm tự lập, không bị trói buộc).
Trong quyển Seihō
ryaku 性法略 [Tính pháp lược]
(Outline of natural law, của Simon Vissering, 1818–1888), được phiên dịch bởi Kanda
Takahira 神田孝平 (1830–1898) năm 1871, ông dùng jishu và jizai Và năm tiếp
theo xuất hiện quyển Jiyū
no ri 自由ノ理 [Tự do chi lí] (bản
dịch của On
Liberty do John
Stuart Mill) do Nakamura Masanao 中村正直 (1832–1891). Trước tác này được nhiều
người dón đọc, và cách dùng từ jiyū cua Nakamura
đóng một vai trò trọng yếu, tuồng như vậy, trong việc thiết lập từ này như một
dịch ngữ quyết định.
Tuy vậy, từ jiyū này, đối với bản thân Nakamura ở tư cách dịch giả,
chưa bao giờ là một thực thể cố định. Tựa như những người đồng thời là
Fukuzawa, Nishi, Tsuda và Katō – có lẽ còn mẫn cảm hơn cả họ – ông hết
sức cẩn trọng trước từ jiyū
như một dịch ngữ. Từ số 10 (tháng Sáu 1874) tờ
Meiroku zasshi 明六雜誌 [Minh lục tạp chí], ông đã công bố một
bài luận nhiều kì có nhan “Seigaku ippan 西學一斑“ [Tây học nhất ban] (Một khái lược về Tây học) giới
thiệu tư tưởng Tây phương. Trong kì đầu của bài luận, ông thêm vào lưu ý sau: “Cụm
‘liberal politics’ được dịch thành kankō
no seigaku [khoan hoằng
chi chính học] (「リベラル・ポリチクス」寬弘之政學ト譯ス )”. Cách diễn xướng này do vậy phiên dịch ‘liberal’
thành kankō no 寬弘之, và ‘liberty’ hẳn là kankō 寬弘 [khoan hoằng]. Vả lại, dịch giả của Jiyū no ri [Tự do chi lí] hai năm sau đó chủ ý tránh dùng jiyū như một dịch ngữ.
Trong một kì bài luận của ông xuất hiện ở số 12 tờ Meiroku zasshi [Minh lục tạp chí], Nakamura lưu ý: “ ‘free states’ ý
chỉ những nước ở đó nhân dân có thể tự do thư triển chí lực của mình ( 「フリー・ステイツ」人民自由ニ志力ヲ舒展スルヲ得 ルノ國トイフ義ナリ ).” Ở đây từ
jiyū xuất hiện trở lại, nhưng ở cuối phần này của bài luận,
ông thêm vào mấy dòng sau:
Lời dịch giả: Trong Tây ngữ có chữ ‘liberty’ mà ở cả nước ta lẫn Shina
[Trung-quốc] đều không có chữ tương đương. [Robert] Morrison dịch chữ này là ‘tự
chủ chi lí 自主之理’ [Nhật ngữ jishu no ri]; [Wilhelm] Lobscheid (1822–1893) dịch là ‘nhậm ý hành chi quyền 任意行之權 [Nhật ngữ nin’i kō no ken, quyền hành động mặc ý]. Sau rốt, từ này nói đến cái quyền con người làm
tuy theo ý mình. Ở những nước Tây phương, nơi ‘civil liberty’ được coi là cơ sở
của khai hoa trị bình [開花治平 | enlightened rule] thì từ này được định nghĩa là
quyền của nhân dân không chịu sự áp chế hay câu thúc nào chừng nào họ còn tuân
theo luật pháp mang lại mối lợi đại công cùng mối hữu ích cộng đồng. Cho nên,
nói đến ‘religious liberty’ tức là nói đến việc cho phép nhân dân tuân theo nền
pháp giáo [religion] mà lòng họ tin là phải, mà hạng
tại thượng tuyệt không cưỡng bách đoạt lấy cái chí ấy của họ. (譯者曰ク、西語ニ「リベルテイ」トイヘル語アリ、我邦ニモ支那ニモシカトコレニ當レル語アラズ、馬禮遜コレヲ自主之理ト譯シ羅存德任意行之權ト譯シタリ。蓋シ人民己レノ好ミニ隨テ為スコトヲ得ベキノ權力ト云ガ如シ、スベテ大公ノ利、共同ノ益トナル律法ニ遵フノ外更ニ他ノ壓制拘束ヲ受ケザル人民ノ權ヲ「シヴィル・リベルテイ」ト云フテ西國ニテハコレヲ開花治平ノ基トスルコトナリ。ユヱニ「レリヂアス・リベルテイ」トイヘバ人民己ノ心ニ是ナリト信ズル法教ニ從フコトヲ託シ、上ノ人強ヒテコレヲ迫 リソノ志ヲ奪フコトナキヲ言フ。)
Đầu tiên ông đề cập những điều khó liên quan việc
phiên dịch từ ‘liberty’, đoạn ông lưu ý tầm quan trọng tột bậc của ‘liberty’
trong lịch sử Tây phương. Ở những phần còn lại trong bài luận này, ông không
dùng bất kì dịch ngữ nào mà chỉ ghi riberuti リベルテイ(theo chữ katakana).
Trong một kì sau đó của bài luận, ở số 15 tạp chí
(tháng Tám 1874), từ jiyū xuất hiện trở lại lần nữa: “ ‘religious liberty’ là quyền
nhân dân được tự do thuận theo những điều mình tin trong các sự việc pháp giáo (「レリヂアス・リベルテイ」法教ノ事 人民己レノ信ズルトコロニ從ツテ得ル自由ノ權ナリ ).” Lần theo những
đoạn khúc khuỷu của cách dùng chữ ở đây, cuối cùng jiyū cũng đến chỗ
thành một dịch ngữ được chọn, nhưng ta còn có thể thấy bước ngoặt trong lòng thận
trọng đối với việc dùng jiyū như một dịch ngữ.
4. Nguyên do một dịch ngữ kém vẫn được lưu lại
Là một chữ Nhật dịch cho chữ ‘liberty’, Fukuzawa
Yukichi lưu ý rằng jiyū không phải là lựa chọn tốt, mặc dầu kì cùng ông cũng dùng chữ
này. Có lẽ chính là do từ jiyū được người dân dùng thường nhật. Fukuzawa mang hi vọng
rằng những người đọc trước tác của ông vẫn sẽ giữ lòng cảnh giác về từ này. Tuy
nhiên, ngay khi lưu truyền rộng khắp chúng dân, từ ngữ có được chức năng và số
phận riêng mình, và chúng không còn nhất định phải thuận theo các ý hướng của
người dùng hay học giả ban đầu. Sau rốt, Jiyū no ri [Tự do chi
lí] được khắp nơi đón đọc, và với hậu cảnh này thì từ jiyū kì cùng đã đến chỗ chiếm được vị trí dịch ngữ cho hai
từ ‘freedom’ và ‘liberty’.
Vậy làm thế nào mà jiyū lại đắc thắng
trong cuộc cạnh tranh này? Chẳng hạn, mọi phương thức trong nỗ lực phiên dịch từ
thời Edo hậu kì cho đến thời Meiji sơ kì, như ta đã thấy, đều đã được thử qua,
chẳng hạn jishu [tự chủ], jizai [tự tại], fuki [bất ki] và kankō [khoan hoằng],
và nguyên do để cho jiyū đắc thắng tuồng như chỉ là thứ mọn. Thay vào đó, người
ta kì vọng những từ như jishu, jizai, fuki và kankō được chọn vì chúng tránh được những sắc thái có liên
hệ với jiyū. Ít nhất những từ đó không có các liên hệ tiêu cực của
jiyū và do vậy có vẻ phù hợp hơn. Giới trí thức bấy giờ, vốn
tường Hán ngữ và Hán văn, chắc chắn hiểu rõ điều này.
Nhìn chung, dịch ngữ nào được chọn
và được lưu lại trong ngôn ngữ sở tại là một câu hỏi khó có lời đáp. Dầu vậy,
người ta có thể nói chung chung rằng từ thích hợp nhất dựa trên ý nghĩa của các
kí tự có thể không được lưu lại trong ngôn ngữ sở tại. Điều có thể nói được là
chữ nào gần giống với một dịch ngữ sẽ là từ bắt rễ. Một dịch ngữ là một chữ có
tông hệ [lineage] hoặc ý
nghĩa ngoại lai [alien] tiến vào ngữ
cảnh có cấu trúc thuộc tiếng mẹ đẻ. Lúc này, chắc chắn sẽ có những chỗ ở đó một
chữ ngoại tộc không được thông hiểu. Những sắc thái của nó sẽ bị bỏ lỡ. Một từ
như thế, trái lại, được hiểu lầm hoặc cắt nghĩa sai, hoá ra lại là một điều
hay. Việc thích ứng hoàn toàn vào tiếng mẹ đẻ sở tại thường sẽ có những điều bất
tiện.
Đối với những chữ Nhật bao gồm các
kí tự Hán ngữ và được phát âm dựa trên lối đọc Hán ngữ, kì thuỷ chúng là những
chữ có tông hệ ngoại lai. Nhật ngữ bảo lưu tông hệ ngoại tộc này và trộn những
chữ ngoại ấy với những từ Nhật bản địa. Sự thực rằng nằm giữa các dịch ngữ thời
hiện đại có vô số cụm từ hai kí tự mang âm đọc Nhật ngữ, ấy chính là một kết quả
của việc đi theo mô hình truyền thống này trong việc bao hàm các ý tưởng ngoại.
Giữa những cụm từ hai kí tự này, những cụm mà theo lẽ nào đó trật chỗ lại đắc dụng
hơn những cụm dễ dàng hoà vào tiếng mẹ đẻ sở tại. Không phải do người ta chọn
chúng một cách ý thức, mà là do cấu trúc ngôn ngữ của Nhật ngữ vận hành theo lối
tự nhiên như thế. Những dịch ngữ là những chữ dễ phân biệt ra từ góc nhìn của
tiếng mẹ đẻ sở tại. Chúng là những chữ vì lẽ nào đó lại sở hữu một dấu hiệu tỏ
khác biệt mà người ta có thể nắm bắt lấy theo trực giác.
5. Jiyū đã được hiểu ra sao
Cho đến lúc này ta đã xem làm thế
nào từ jiyū như một dịch ngữ được hiểu trong giới dịch giả – tức
là, thiểu số trong giới trí thức – và giờ đây ta đã xem làm thế nào đa số quần
chúng hiểu từ này. Đây là góc nhìn của kẻ đánh bạc và bản thân Yanagita trong bản
hồi kí của Yanagita Kunio mà chúng tôi đã giới thiệu ban nãy.
Vào năm 1879, Tsuji Kōsō 辻弘想 công bố quyển Kaika no hanashi 開化のはなし(Những câu chuyện về khai hoá).[3] Quển này bao hàm đoạn đối thoại sau về chữ jiyū:
Bảo thủ phái: . . . Anh tự cho mình thói vênh
váo, ý cho rằng anh được bổ chức dịch hiện tại là nhờ tài mình. Anh lãng phí tiền
tài vào mũ vào giày, sử dụng thứ Hán ngữ không ai nghe thấy từ thời Nghiêu Thuấn
cho đến Thanh triều hiện nay, và mang lòng tự đắc cho là mình kham nổi cái nhiệm
vụ như vậy. Đó quả là
một liệu kiến ảo tưởng . . . (<保守派>。。。然るを、君は腦味噌を上げ、吾人材なればこそ、斯る役を蒙りしとて、帽子や靴に無益鈔を費し、堯舜以來清朝の今に至るまで、見も聞きもせぬ漢語をつかひ、自ら其任に堪えたりと思ふは、以ての外の料見違ひたり。。。)
Khai minh
phái: Anh thực là người của thời Tenpō [1830–1844]. Anh có thể không biết thôi,
nhưng ngày nay các quyền lợi về jishu [tự chủ]
và jiyū [tự do] đã theo tàu lớn từ Tây dương mà vào. Chính phủ
đã mua lấy chúng, đem cắt bán từng mẩu, thậm chí phân chia cho đám nhân dân ti
tiện . . . Chữ jiyū nghĩa là cư
xử theo ý mình và không bị kẻ khác gây chướng ngại; tức là cư xử tuỳ tâm tuỳ ý
vậy. Bởi thế, dù người ta có đội mũ hay mang giày ở chân, những kẻ khác cứ nói ra
nói vào thì chính là cản trở jiyū của người
ấy vậy . . . (<開明派>實に、君は天保度の人なるかな。知らずや、方今は西洋より、自主自由の權利といふものが舶來し、政府で、それを買ひ玉ひ、國中卑賤の人民まで、切り賣りにして分けて下され。。。自由と云ふは、我思ふ儘をして、他人より故障の謂はれぬものにて氣隨氣儘なることなり。夫故に自分の體に帽子を被らふとも、靴を穿ふとも、側から四の五のいふは、人の自由を妨ぐるといふもの、。。。)
Bảo thủ phái:
Hãy nghĩ kĩ việc này. Nếu ta cư xử cho thoả thích, rốt cuộc quốc pháp sẽ chẳng
cần, mà quan lại cũng chẳng cần. Chuyện thôi thúc anh nhập học có thể là cái gây
phương hại cho jiyū của anh,
thực tế lại là đề nghị không được hoan nghênh. Cho là ta buông lời mạ lị anh; ấy
là ta đem tâm tư mình thốt ra ngoài miệng, và có lẽ đó là quyền tự do ngôn ngữ.
Nếu lòng anh phát nộ và đòi trừ tịch ta, đấy cũng là một đề nghị không được
hoan nghênh. Đó là pháp của hạng di địch. Nếu ai nấy có jiyū của riêng mình và mỗi một người đều hành động độc lập,
thì quốc gia có thể cai trị cho thái bình như thế nào đây? Cảnh cãi nhau ồn ào sớm
tối tuyệt không dứt được. (<保守派>能く考へても見られよ、我思ふ存分を、仕次第にしたならば、國法も入らず、官吏も入らず君の入學を催促するも、亦人の自由を妨ぐる理にて、入らぬ御世話、また吾の君を罵しるも、我心に思ふことを我口に出す言語自由の權かなれば、君の怒って除籍するの何のと云ぐも入らぬ御世話なり。なんぞ夷狄の法じやとて、自分々々の自由なりとて、一人々々獨立せば、國泰平に治まるべき。朝夕喧嘩は絕ゆべからず。)
Cái jiyū nào mà Khai minh phái ủng hộ? “Theo
tàu lớn từ Tây dương mà vào”, văn bản ghi vậy. “Chính phủ đã mua lấy chúng, đem
cắt bán từng mẩu, thậm chí phân chia cho đám nhân dân ti tiện.” Đây rõ ràng không
phải là ‘liberty’. Đây là cũng không phải từ jiyū như được
dùng theo truyền thống trong văn cảnh thường nhật. Dầu vậy, trong bất kì sự kiện
nào, đây là một thứ “theo thuyền lớn mà vào”, được hoan nghênh. Nó là một chữ
giống như kasetto (cassette) trong Nhật ngữ. Khi ta nghe miêu tả về ý
nghĩa của nó, “cư xử theo ý mình và không bị kẻ khác gây chướng ngại”, lời miêu
tả này làm nhớ đến nghĩa truyền thống của từ jiyū. Một nghĩa
Nhật ngữ bình thường nào đó hẳn sẽ được người ta hiểu trong chữ ‘cassette’, nhưng
đó không phải tất cả. Một thứ thêm vào mà bản thân Khai minh phái không hoàn toàn
nhận thức được là nó ở đó – và nó là một điều hay.
Trái lại, Bảo thủ phái hiểu từ jiyū theo nghĩa truyền thống là phóng túng và làm theo tư ý,
nhưng đó không phải tất cả. Như văn bản ghi lời họ, “[anh] sử dụng thứ Hán ngữ không ai nghe thấy từ thời Nghiêu Thuấn” trở đi – dù sao đây cũng là một điều tệ. Trong trường hợp này, việc thêm
một chút vào ý nghĩa truyền thống đã dẫn đến một hậu quả tiêu cực.
Giờ ta hãy nhìn lại bản hồi kí của Yanagita Kunio được
nêu ở phần mở đầu. Ta thấy ở đây một cấu trúc đối nghịch xung quanh chữ jiyū mà trông rất đỗi quen thuộc. Sự đối nghịch giữa kẻ
thanh niên cờ bạc và Yanagita tương tự sự đối nghịch giữa Bảo thủ phái và Khai
minh phái. Cả bên tán đồng nó lẫn bên chống đối thảy đều không hiểu từ này, nhưng
cả hai đều nghiêm túc và nhiệt tình tán thành hoặc chống đối jiyū.
Hiện tượng này có lẽ không giới hạn trong phạm vi thuật
ngữ phiên dịch. Mô thức cơ bản có vẻ như là bất kì hiện tượng mới xuất hiện nào
vốn tiến nhập từ ngoài đều khơi dẫn một phản ứng đối nghịch. Các dịch ngữ bắt
nguồn từ những chữ được đặt trong một hệ thống ngôn ngữ học, một hệ thống ý nghĩa
văn hoá, và sau đó bị phân li, tách rời khỏi hệ thống ấy. Nếu ta chỉ nhìn vào
thuật ngữ phiên dịch như những chữ bị tách rời, ta gần như sẽ không hiểu được ý
nghĩa nguyên thuỷ của chúng.
Tuy vậy, không nhất định rằng một khi được hiểu thấu đáo
thì tất cả các hiện tượng sẽ được chấp nhận. Đường đi sẽ la, sau khi được chấp
nhận, thì mọi người mới dần dần đến chỗ thông hiểu ý nghĩa của chúng. Thẳng thắn
mà nói, các dịch ngữ mà chúng tôi đã khảo xét là những chữ vận hành theo thể thức
này. Kể từ thuở bình minh của lịch sử, đây là lối mà người Nhật đi theo để dung
nhập văn hoá ngoại lai qua phương tiện Hán tự.
Nếu ta có thể quay lại đoạn đối thoại được dẫn bên trên
về jiyū, mặc dù ở đây được khắc hoạ châm biếm, nhưng tôi vẫn
tin rằng đoạn ấy miêu tả được bản chất của cách ta hiểu các dịch ngữ. Từ jiyū theo lối hiểu của Khai minh phái ở đây tuồng như hoà
hợp với ý nghĩa truyền thống của từ này. Đây rõ ràng khác với một thứ rất đỗi
quan trọng vốn đã “theo tàu lớn mà vào” và được “phân chia cho [đám nhân dân ti
tiện]”. “Cư xử theo ý mình và không bị kẻ khác gây chướng ngại” lúc này là những
ý tưởng mà lối suy nghĩ của nhân quần đã cải đổi theo đó và xem là sự quan trọng.
Thông qua một ý thức như vậy thì quan niệm truyền thống của jiyū có lẽ dần từng bước đến chỗ được thông hiểu là có ý
nghĩa gần với ‘liberty’.
Trong câu chuyện của Yanagita, chỉ một tay thanh niên
trong cơn say bí tỉ ngã vật xuống một ngưỡng cửa một tư gia danh giá rành rành
của kẻ khác, và dầu vậy mặc lòng y vẫn biện hộ cho hành vi bất phù hợp ấy bằng
cách viện đến jiyū. Ấy là sự quan trọng. Ta có cái nhìn
thoáng qua hậu cảnh ở đây thuộc về một thời đại trong đó tân tự jiyū dần bắt đầu khởi phát lòng ngẫm nghĩ trong chúng dân.
Chú thích của dịch giả Anh ngữ:
[1] Yanagita Kunio, Tanoshii seikatsu たのしい生活 (Một đời sung sướng) (1941); tường thuật trong TeihonYanagita Kunio shū 定本柳田國男集 (Collection of writings of Yanagita Kunio, revised) (Tokyo: Chikuma shobō, 1982), tập 30.
[2] Tsuda Sōkichi, “Yakugo kara okoru goyaku” 訳語から起る誤解 (Những ngộ giải khởi phát từ dich ngữ), Kokoro 心 (tháng Một 1956).
[3] Chú thích của dịch giả [Anh ngữ]: (Tokyo: Hakubundō, 1879).
Đoàn Duy chuyển ngữ từ bản Anh ngữ của Joshua A. Fogel
Nguồn:
Yanabu Akira; Liberty-Freedom: Yanagita Kunio’s Resistance; The Emergence of the Modern Sino-Japanese Lexicon: Seven Studies (biên tập và phiên dịch bởi Joshua A. Fogel); Brill, 2015.
No comments:
Post a Comment