Showing posts with label short story. Show all posts
Showing posts with label short story. Show all posts

Thursday, May 22, 2025

Ambrose Bierce - Năm mới mừng vui

Ambrose Bierce

Năm mới mừng vui

Một kẻ say rượu nghèo với dáng vẻ tiều tuỵ trở về căn nhà tồi tàn của y ngay những thời khắc đầu tiên của năm mới. Các chuông nhà thờ vang lên những tiếng thiệt lớn xát vào ánh trăng trắng ngà đương nằm trên lớp bùn tuyết nhão nhoét. Khi y nghe tràng thanh âm reo mừng, báo tin năm mới ra đời, con tim y đập rộn vào tấm áo gi-lê cũ tựa hồ tiếng búa tạ mang nỗi niềm ăn năn.

Y độc thoại, “sao không nhân những tiếng chuông ấy đặng mà tuyên bố rằng một sự quyết tâm mới nay đã xuất hiện? Mấy tuần qua mình chẳng làm được một sự gì như thế, và giờ đến lúc rồi. Mình sẽ thề bỏ từ rày.”

Y đã thề, và lúc ấy một ánh sáng chừng như rọi xuống lối y đương đi; vợ y tay cầm cây đèn thiếc bước ra khỏi nhà. Y ào chạy tới lòng hăm hở muốn gặp nàng. Nàng thấy trong mắt y hiện ra một ý chí mới lạ và thiêng liêng. Nàng nhận ra nó ngay – nàng đã từng thấy nó trước đây. Họ ôm nhau oà khóc. Đoạn y duỗi thẳng lại cái mớ tàn tạ của một hình hài vốn từng là đấng nam nhi, nhướng đôi mắt lên nhìn tầng trời và một tay giơ lên sao cho thiệt gần chốn trời cao, và ở đó dưới ánh trăng suông, chỉ có mỗi cô vợ lòng đương kinh ngạc, và các thiên thần, và một đôi con bò sữa, làm chứng nhân cho cuộc này, y thề rằng từ thời khắc ấy y sẽ kiêng dứt các thức rượu say sưa cho đến ngày tử biệt. Đoạn đưa mắt nhìn xuống và dịu dàng nhoẻn miệng cười với đôi mắt người vợ, y nói: “Đây chẳng là điều phải sao, em yêu?” Gương mặt ánh lên vẻ rạng rỡ cùng niềm vui mới, nàng đáp:

“Phải lắm, John – ta làm một li nhé.” Rồi họ làm một li, nàng pha đường còn y uống trơn.

Chỗ ấy nay người ta vẫn còn chỉ cho du khách biết.

Đoàn Duy chuyển ngữ

Monday, March 31, 2025

Clarice Lispector - Câu chuyện thứ năm

Clarice Lispector

Câu chuyện thứ năm

 

Câu chuyện này có thể mang tên 'Những bức tượng'. Một cái tên khả dĩ khác là 'Cuộc mưu sát'. Và còn có thể là 'Cách giết bọn gián'. Vậy nên tôi sẽ kể ít nhất ba câu chuyện, thảy đều thật vì lẽ chúng không mâu thuẫn nhau. Mặc dù là một câu chuyện đơn nhất, chúng hẳn sẽ là một nghìn lẻ một câu chuyện, nếu tôi có được một nghìn lẻ một đêm.

Câu chuyện đầu tiên, 'Cách giết bọn gián', bắt đầu thế này: ngày nọ tôi than phiền về việc có gián. Cô kia nghe lỏm được. Cô đưa cho tôi công thức làm ra món giết chúng. Tôi sẽ trộn đường, bột mì và thạch cao với tỉ lệ bằng nhau. Bột mì và đường sẽ thu hút chúng, thạch cao sẽ làm khô cứng chúng từ bên trong. Tôi làm như vậy. Chúng chết queo.

Câu chuyện khác thực ra lại là câu chuyện đầu tiên và có tên 'Cuộc mưu sát'. Nó bắt đầu thế này: ngày nọ tôi than phiền về việc có gián. Cô kia nghe lỏm được. Công thức xuất hiện tiếp sau đó. Và rồi đến chuyện giết gián. Sự thật là tôi chỉ than phiền về lũ gián một cách chung chung thôi, bởi chúng thậm chí đâu phải của tôi: chúng thuộc về tầng trệt và chúng sẽ leo lên đường ống nước toà nhà tới nhà chúng tôi. Chỉ ở thời điểm tôi sửa soạn cái hỗn hợp đó thì chúng mới thuộc về tôi. Khi ấy, nhân danh chúng tôi, tôi bắt đầu cân đong các thành phần bằng sự tập trung có phần mãnh liệt. Một cơn bực tức mô hồ phát sinh trong tôi, một cảm giác phẫn nộ. Ban ngày bọn gián vô hình và không ai tin rằng có thứ tai vạ bí mật đương gặm nhắm căn hộ bình an dường này. Nhưng nếu chúng, tựa như các thứ tai vạ bí mật, ngủ vào buổi ban ngày, thì tôi sẽ ở đó sửa soạn độc dược cho buổi tối. Tỉ mỉ, hăng hái, tôi pha chế thức linh dược gây nên cái chết dằng dai. Một nỗi sợ trong hào hứng và cái tai vạ bí mật của riêng tôi đã đưa lối dẫn đường cho tôi. Giờ đây lòng lạnh băng tôi chỉ muốn một điều: giết mọi con gián trên đời này. Bọn gián cứ leo lên các đường ống trong lúc chúng tôi, người mỏi mệt, đang nằm mộng. Và nhìn xem, bài thuốc đã sẵn sàng, trắng muốt. Như thể dành cho bọn gián khôn như tôi, tôi khéo léo rắc thứ bột đó đến khi nó trông như một thứ thuộc về tự nhiên vậy. Từ giường mình, trong cảnh lặng im của căn hộ, tôi hình dung chúng bò từng con một lên chỗ phòng giặt đồ, ở đó màn đêm đương ngủ, chỉ mỗi chiếc khăn cảnh giác trên dây phơi đồ. Mấy tiếng sau tôi thức giấc, giật mình khi nhận ra trễ quá rồi. Trời đã bừng sáng. Tôi băng qua phòng bếp. Ở đàng kia là bọn chúng nằm trên sàn phòng giặt, cứng đơ, to tướng. Tôi đã giết chóc trong đêm. Nhân danh chúng tôi, ngày đã tỏ rạng. Ở khu nhà lụp xụp trên kia, con gà trống gáy.

Thursday, February 13, 2025

Clarice Lispector - Trăm năm thứ tha


Clarice Lispector

Một trăm năm thứ tha

Những ai chưa từng ăn trộm sẽ không hiểu được tôi. Và bất kì ai chưa từng ăn trộm hoa hồng sẽ không bao giờ có thể hiểu được tôi. Khi tôi còn nhỏ, tôi từng ăn trộm hoa hồng.

Ở Recife đường sá nhiều vô kể, những con đường của người giàu, xếp thành hàng hai bên là mấy căn biệt thự đặt ở giữa các khu vườn rộng lớn. Cô bạn tôi và tôi thích chơi trò quyết định xem căn biệt thự này kia này thuộc về ai. “Cái trắng này của tớ.” “Không, tớ đã bảo những căn màu trắng của tớ hết.” “Nhưng cái này có trắng toàn bộ đâu. Nó có cửa sổ màu xanh lá cây mà.”Đôi khi bọn tôi đứng rất lâu, tựa mặt vào hàng rào, nhìn chằm chằm.

Friday, January 31, 2025

João Guimarães Rosa - Bờ thứ ba của con sông


João Guimarães Rosa

Bờ thứ ba của con sông


Cha tôi là người có ý thức trách nhiệm, nề nếp và bộc trực; và đã có cái tính như vậy từ hồi mới lớn hoặc ngay từ lúc bé thơ, theo như lời mấy người đáng tin cậy mà tôi dò hỏi được. Theo kí ức chính tôi, ông không kì quái hơn cũng chẳng sầu muộn hơn những người quen khác. Chỉ trầm lặng hơn. Chính mẹ tôi mới là người cai quản ngôi nhà, là người la mắng chúng tôi hằng ngày – chị tôi, anh tôi, và tôi. Nhưng ngày nọ cha tôi bỗng đặt người ta làm một chiếc xuồng.

Ông nghiêm túc ghê lắm. Ông đặt làm một chiếc xuồng đặc biệt, bằng gỗ cây vinhático, nhỏ, chỉ vừa đủ chỗ cho người chèo. Nhưng toàn bộ chiếc xuồng phải được đóng kĩ càng, đủ cứng cáp ở mũi xuồng, sao cho ở được trên sông suốt hai mươi hay ba mươi năm. Mẹ tôi càu nhàu vụ này không thôi. Phải chăng chồng bà, một người chưa từng học đòi mấy món này, giờ đây dự tính đi đánh cá và đi săn bắt? Cha không nói gì hết. Nhà chúng tôi khi ấy vẫn còn gần con sông, cách con sông cỡ một cây số: con sông trải ra ở đó, lớn, sâu và tĩnh mịch. Rộng đến mức chúng tôi không thể nhìn sang bờ bên kia. Và nếu có một điều tôi không tài nào quên cho được, thì đó là cái ngày chiếc xuồng được giao đến.

Không vui cũng chẳng tỏ vẻ gì, cha ụp chiếc nón lên đầu rồi chào tạm biệt chúng tôi, như một sự đã định từ trước. Ông tịnh không thốt ra lời nào khác, không mang theo gói lương thực và quần áo, không khuyên nhủ điều chi. Chúng tôi tưởng mẹ sẽ la lên, nhưng bà chỉ đứng đó trông nhợt nhạt, giận căm căm, tự cắn môi mình rồi buông tiếng gầm gừ: — “Nếu ông đi, thì đi luôn đi. Đừng bao giờ quay về!” Cha nín lặng không đáp. Ông nhìn tôi với vẻ dịu dàng, vẫy tay ra hiệu bảo tôi đi cùng ông một chút. Tôi sợ cơn thịnh nộ của mẹ, tuy vậy vẫn theo lời cha. Hướng đi của mọi sự tuồng như khích lệ tôi, khiến tôi mạnh dạn hỏi: — “Cha ơi, cha cho con lên xuồng luôn nha?” Ông chỉ nhìn tôi, làm động tác ban phúc lành cho tôi, ra dấu bảo tôi quay về. Tôi vờ như đi về, tôi xoay người lại lần nữa, ở chỗ con mương trong rừng, để xem chuyện gì xảy ra. Cha lên xuồng và chèo đi. Và chiếc xuồng lướt đi – cùng với cái bóng của nó, tựa hồ một con cá sấu, dài thật dài.

Wednesday, January 15, 2025

Silvina Ocampo - Kí thuật về thiên đàng và địa ngục


Silvina Ocampo

Kí thuật về Thiên đàng và Địa ngục


Theo hình mẫu của các nhà đấu giá lớn, Thiên đàng và Địa ngục có những phòng triển lãm chứa đầy các đồ vật vốn không làm ai ngạc nhiên hết, bởi chúng cũng là các thứ thường thấy đầy trong các ngôi nhà ở trần thế. Nhưng chỉ nói đến các đồ vật thì chưa đủ:  trong những sảnh đó còn có các thành phố, các thị trấn, các khu vườn, các ngọn núi, các thung lũng, các mặt trời, các mặt trăng, các ngọn gió, các vì sao, các ánh phản chiếu, các nhiệt độ, các mùi vị, các hương thơm và các âm thanh, đời đời cho ta đủ loại cảnh quan và cảm giác.

Nếu ngọn gió gầm lên như con hổ, hoặc chim bồ câu tựa thiên thần, và nhìn bạn bằng đôi mắt của linh cẩu; nếu một gã giàu băng ngang đường vận bộ đồ tả tơi dâm dật; nếu đoá hồng, với các danh hiệu cao quý kèm theo, mà người ta trao cho bạn lại lợt lạt đi và trông tầm thường, ít gây chú ý hơn cả một con chim sẻ; nếu gương mặt vợ bạn là một thanh gỗ trơ trọi phẫn tức, thì chính đôi mắt bạn, không phải Chúa trời, đã khiến chúng thành ra thế đó.

Khi bạn chết, ác quỷ và thiên thần đều mang lòng hào hứng như nhau, biết rằng bạn đang ngủ, vẫn còn trong thế giới này và phần nào trong thế giới kia, và sẽ đội lốt nguỵ trang rồi tìm đến giường bạn, vuốt ve đầu bạn, và kêu bạn hãy chọn những thứ bạn thích trong đời. Trước tiên, họ sẽ cho bạn thấy những thứ giản dị, như thể đang mở ra một quyển trưng bày mẫu vật. Nếu họ cho bạn thấy mặt trời, mặt trăng hoặc các vì sao, bạn sẽ thấy chúng trong một quả cầu pha lê có hình hoạ, và bạn sẽ nghĩ quả cầu pha lê này chính là thế giới; nếu họ cho bạn thấy biển hoặc núi, bạn sẽ thấy chúng trên một tảng đá và bạn sẽ nghĩ tảng đá chính là biển hoặc núi; nếu họ cho bạn thấy một con ngựa, nó sẽ là một tượng thú tí hon, nhưng bạn sẽ nghĩ con ngựa tí hon đó là một con ngựa thực thụ. Các thiên thần và ác quỷ sẽ làm rối trí bạn bằng mấy bức ảnh về các bông hoa, trái cây bóng loáng và mấy viên kẹo. Làm cho bạn nghĩ mình vẫn còn là một đứa trẻ, họ sẽ đặt bạn ngồi ở một cái ghế kiệu được gọi là ghế nữ vương, hoặc ở một cái ghế vàng kim, và bằng cách này họ sẽ dẫn bạn, với đôi tay nắm chặt, đi qua những hành lang ấy đến trung tâm của đời bạn, nơi giấu những món ưa thích của bạn. Hãy cẩn trọng. Nếu bạn chọn nhiều thứ từ Địa ngục hơn từ Thiên đàng, bạn có thể bị đưa tới Thiên đàng; trái lại, nếu bạn chọn nhiều thứ từ Thiên đàng hơn từ Địa ngục, bạn có nguy cơ tới Địa ngục, vì lẽ niềm yêu thích các món thiên thượng có thể là dấu hiệu của lòng tham.

Luật lệ của Thiên đàng và Địa ngục thường linh động. Chuyện bạn được đưa tới nơi này hay nơi kia nó tuỳ thuộc vào chi tiết nhỏ nhoi nào đó. Tôi có biết những người tới Địa ngục vì một cái chìa khoá gãy hoặc vì một cái chuồng chim bằng liễu gai, và những người đến Thiên đàng vì một trang báo hoặc một li sữa.

Saturday, January 11, 2025

Lydia Davis - Jane và cây ba-toong


Lydia Davis

Jane và cây ba-toong

Bà mẹ không tìm ra ba-toong của bà. Bà có một ba-toong, nhưng bà không thể tìm ra ba-toong đặc biệt của bà. Ba-toong đặc biệt của bà chỗ tay cầm là đầu một con chó. Đoạn bà nhớ ra: Jane có ba-toong của bà. Jane ghé thăm hồi ấy, Jane cần ba-toong để trở về nhà. Chuyện ấy cách đây hai năm. Bà mẹ gọi Jane. Bà bảo Jane bà cần ba-toong của bà. Jane ghé cầm theo một ba-toong. Khi Jane ghé, bà mẹ đang mệt. Bà nằm trên giường. Bà không nhìn cây ba-toong. Jane đi về nhà. Bà mẹ ra khỏi giường. Bà nhìn cây ba-toong. Bà thấy đây không phải ba-toong đó. Đây là một ba-toong trơn. Bà gọi Jane và bảo rằng: đây không phải ba-toong đó. Nhưng Jane đang mệt. Cô quá mệt để mà nói chuyện. Cô sắp vào giường. Sáng hôm sau cô ghé cầm theo cây ba-toong. Bà mẹ ra khỏi giường. Bà nhìn cây ba-toong. Đây đúng là ba-toong đó. Nó có đầu một con chó phía trên, màu nâu trắng. Jane về nhà cầm theo ba-toong kia, cây ba-toong trơn. Sau khi Jane đi, bà mẹ càm ràm, bà càm ràm trên điện thoại: Tại sao Jane không đem ba-toong đó trở lại? Tại sao Jane đem sai ba-toong? Bà mẹ đang mệt. Ôi, bà mẹ thấy mệt mỏi với Jane và cây ba-toong.

Monday, December 30, 2024

Lydia Davis - Egg


Lydia Davis

Egg

Từ dành cho ‘trứng’ trong tiếng Hà-lan là ei. Trong tiếng Đức nó là Ei, trong tiếng Yiddish là ey, trong tiếng Anh Cổ là ey. Từ dành cho trứng trong tiếng Na-uy là egg, trong tiếng Iceland nó là egg, trong tiếng Faroe là egg, trong tiếng Thuỵ-điển là ägg, trong tiếng Đan-mạch là æg. Trong tiếng Bắc Âu Cổ từ đó là egg, trong tiếng Anh Trung đại là egge. (Trong tiếng Pháp nó là oeuf.) (Trong tiếng Gaelic xứ Scotland nó là ugh.)

Hai em bé người Mĩ, cách đây đã lâu, đang tập nói – chúng đang tập tiếng Anh, chúng không có chọn lựa nào. Chúng sắp mười tám tháng tuổi, một đứa lớn hơn đứa kia một tuần. Đôi khi chúng giành nhau đồ chơi, lúc khác chúng tự mình chơi trong thầm lặng trong cùng một phòng.

Ở sàn phòng khách, hôm nay, một bé thấy một thứ trắng tròn trên thảm lót sàn. Nó đứng dậy, có chút khó khăn, và đi lẫm chẫm đến vật ấy. Nó nói “Eck?” Nghe thế, đứa còn lại ngẩng lên, thấy hứng thú, đứng dậy, cũng có chút khó khăn, đi lẫm chẫm lại để xem, và nói “Ack!” Chúng đang học từ này, chúng gần như có được từ đó. Chuyện chẳng hề quan trọng gì khi cái vật trắng tròn đó không phải quả trứng mà là quả bóng bàn. Theo thời gian thì chúng cũng sẽ học được thứ này thôi.

Sunday, December 29, 2024

Lydia Davis - Một khoảnh khắc xa xưa: Nhiếp ảnh gia lưu động


Lydia Davis

Một khoảnh khắc xa xưa: Nhiếp ảnh gia lưu động

Một nhiếp ảnh gia lưu động vừa sắp đặt máy ảnh, mấy cây đèn và một cái ghế ở một tiệm tạp hoá nọ. Cảnh này từng xuất hiện cách đây nhiều năm. Tôi đã ở đó, bản thân tôi đã thấy cảnh này. Lúc này một cô bé nhỏ xíu đang ngồi trên ghế, một em bé không hơn. Anh ta đang khổ sở với con bé. Con bé không cười. Con bé nghiêm nghị nhìn anh. Sau rốt, trong tuyệt vọng, anh ta cầm lên con hươu cao cổ màu cam, bước một bước tới con bé, và vẫy con thú cách dữ dội trước mặt con bé. Thấy thế, con bé há miệng to, để lộ ra hai răng hàm dưới, hai răng duy nhất, rồi oà lên khóc.

Wednesday, December 25, 2024

Lydia Davis - Bức thư gửi cha


Lydia Davis

Bức thư gửi cha

 

Celan, khi nói về Kafka, nói rằng: “Một bài thơ luôn là một bức thư gửi cha.”
Tôi kể điều này cho một người bạn thi sĩ nghe.
Người bạn thi sĩ đáp lời:
“Celan hẳn là có một người cha khác với người cha tôi từng có.”
Anh ngừng lại nghĩ ngợt và sau đó hỏi, “Khác với người cha tôi có? . . . “
Cha anh đã mất.
“Tôi có một người cha, hay tôi từng có một người cha?”
Tôi không thể trả lời câu hỏi ấy.

Lydia Davis - Một mẩu tin ngắn cách đây đã lâu


Lydia Davis

Một mẩu tin ngắn cách đây đã lâu


Chúng tôi nghe được câu chuyện này cách đây nhiều năm ở chương trình tin tức buổi tối: một cặp cô dâu và chú rể vào đêm đám cưới của họ đã uống say sưa cùng bạn hữu và sau đó lên xe của cô dâu và lái đi mất. Ở con đường cụt gần một cầu vượt, họ ngừng xe, tắt máy, và bắt đầu cãi nhau ầm ĩ. Tiếng cãi nhau có thể nghe thấy ở mấy căn nhà gần đó và tiếp tục như thế một đỗi thật lâu đến mức những người khu lân cận bắt đầu lắng nghe. Một hồi sau, chú rể quát lên với cô dâu: “Được rồi, vậy cán tôi đi”. Tới lúc này, mấy người khu đó cũng đang trông ra từ cửa sổ. Anh chàng bước ra khỏi xe, đóng sầm cửa lại, và nằm xuống ngay trước bánh xe trước bên phía ghế hành khách. Cô dâu nổ máy xe và lái chiếc xe nặng 1800 kí-lô cán qua anh chàng. Anh ta chết ngay tức khắc. Cuộc hôn nhân của họ chỉ thọ có mấy tiếng. Vào lúc chết, anh chàng vẫn còn đang mặc bộ tuxedo.

Monday, December 16, 2024

César Aira - Con chó


César Aira

Con chó

Hôm ấy tôi ở trên xe buýt, ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài đường. Bất thần, một con chó bắt đầu sủa ầm ĩ gần đó. Tôi rán nhìn xem nó ở đâu. Mấy hành khách khác cũng nhìn như tôi. Xe buýt không quá đông: tất cả ghế đều có người ngồi, chỉ vài người đứng; họ có cơ hội tốt nhất để thấy con chó, vì họ nhìn từ vị trí cao hơn và nhìn được ra cả hai bên. Ngay cả với người đang ngồi như tôi, xe buýt cũng cho tầm nhìn cao, giống như loài ngựa đối với tổ tiên ta: la perspective cavalière [viễn cận kị sĩ]. Đó là lí do tôi thích xe buýt hơn xe hơi, vì xe hơi chở bạn ở vị trí thấp, sát mặt đất. Tiếng sủa phát ra từ bên tôi ngồi, phía vỉa hè, điều đó hợp lẽ. Tuy vậy, tôi vẫn không thấy được con chó, và do xe đang chạy nhanh, tôi nghĩ quá muộn rồi; chúng tôi hẳn đã bỏ lại nó đằng sau. Con chó đã khơi dậy một chút hiếu kì vốn luôn có mặt xung quanh một sự cố hoặc một tai nạn, nhưng ở trường hợp này, ngoài âm lượng của tiếng sủa, gần như không gì cho thấy có điều gì đã xảy ra: mấy con chó người ta dắt đi trong thành phố hiếm khi sủa, trừ phi sủa những con chó khác. Vậy là sự chú ý của các hành khách bắt đầu phai đi . . . rồi bất thần người ta tập trung trở lại: tiếng sủa vang lên lần nữa, lớn hơn trước. Lúc đó tôi thấy con chó. Nó chạy dọc vỉa hè và sủa vào xe buýt, đuổi theo xe, phóng thật nhanh hòng bắt kịp xe. Điều này thật lạ. Ngày xưa, ở các thị trấn miền quê và các khu ngoại vi thành phố, chó thường chạy theo xe, sủa vào bánh xe; đó là điều tôi nhớ rõ từ thời thơ ấu ở Pringles. Nhưng giờ ta không còn thấy điều đó nữa; như thể chó đã tiến hoá và trở nên quen với sự hiện diện của xe. Và hơn nữa, con chó này không sủa vào bánh xe buýt mà sủa vào nguyên chiếc xe, ngẩng đầu lên, nhìn chăm chăm cửa sổ. Tất cả hành khách đều nhìn ra. Có lẽ chủ của con chó đã lên xe, quên mất nó hoặc bỏ rơi nó? Hoặc có lẽ ai đó đã tấn công người chủ hoặc cướp đồ của người chủ? Nhưng không, xe buýt nãy giờ đang chạy dọc theo phố Avenida Directorio liên tục không dừng qua mấy dãy nhà , và chỉ đến dãy nhà hiện thời thì con chó mới bắt đầu đuổi theo. Những giả thuyết phức tạp hơn – chẳng hạn như xe buýt đã cán qua chủ con chó hoặc một con chó khác – có thể gạt ra được rồi, vì không có chuyện như vậy. Hôm đó là chiều Chủ nhật và đường phố tương đối trống trải: một vụ tai nạn xảy ra thì ắt là người ta sẽ biết.

Friday, April 28, 2023

Margaret Atwood - Sát nhân trong tối

Margaret Atwood

Sát nhân trong tối


Đây là trò chơi mà tôi chơi chỉ mới hai lần. Lần đầu hồi tôi lớp năm, tôi chơi trò này ở một tầng hầm, tầng hầm của một căn nhà lớn thuộc về cha mẹ của một cô bé tên là Louise. Có bàn bi-da lỗ dưới tầng hầm đó nhưng chẳng ai trong số chúng tôi biết gì về món bi-da lỗ này. Còn có một cây dương cầm loại tự động. Sau một hồi thì chúng tôi phát chán cái việc cứ bỏ mấy cuộn phiếu đục lỗ vào cây đàn rồi xem mấy phím đàn tự chúng nâng lên hạ xuống, giống như một thứ trong một cuốn phim chiếu lúc đêm muộn ngay trước khi bạn thấy người chết. Tôi phải lòng yêu một thằng nhỏ tên là Bill, thằng này thì phải lòng yêu Louise. Thằng nhỏ kia, tôi chẳng tài nào nhớ tên nổi, thì lại phải lòng yêu tôi. Chẳng ai biết được Louise phải lòng yêu ai.

Vậy lại chúng tôi tắt đèn dưới tầng hầm và chơi trò “Sát nhân trong tối”, một trò khiến đám con trai vui thú vì có thể đặt tay quanh cổ bọn con gái và khiến đám con gái vui thú vì được la hét. Niềm hào hứng gần như vượt quá cái chúng tôi có thể kham nổi, nhưng may thay cha mẹ Louise về nhà và hỏi bọn tôi là bọn tôi đang nghĩ mình đang làm cái trò gì đó.

Margaret Atwood - Chế chất độc

Margaret Atwood

Chế chất độc

Khi tôi năm tuổi, anh em tôi đi chế chất độc. Thuở ấy chúng tôi sống ở một thành phố, nhưng dù vậy thì chúng tôi vẫn cứ chế chất độc. Chúng tôi giữ nó trong một cái hộp sơn để bên dưới căn nhà một người nọ và chúng tôi bỏ đủ thứ độc hai vào đó, nhưng thứ mà chúng tôi có thể nghĩ đến: nấm độc, chuột chết, mấy quả thanh lương trà trông không độc hại nhưng có vẻ là có độc, nước đái mà chúng tôi để dành nhằm cho vào hộp này. Đến hồi cái hộp đầy thì mọi thứ trong đó rất là độc hại.

Vấn đề là sau khi đã chế ra chất độc thì chúng tôi đâu thể cứ để nó ở đó. Chúng tôi phải làm gì với chất độc này. Chúng tôi không muốn cho nó vào thức ăn của người ta, nhưng chúng tôi muốn có một mục tiêu, một sự hoàn tất. Chúng tôi không mang lòng ghét bỏ ai đủ để làm thế, chuyện này thật là khó.

Tôi không nhớ nổi là rốt cuộc thì chúng tôi làm gì với chất độc. Chúng tôi để nó bên dưới góc căn nhà kia, vốn làm bằng gỗ va có màu vàng nâu? Chúng tôi đã ném nó vào ai đó chăng, một đứa nhỏ vô hại chẳng hạn? Chúng tôi không dám làm với người lớn. Liệu đây có phải là hình ảnh đích thực mà tôi có đựox, một khuôn mặt tuôn trào nước mắt và mấy quả thanh lương trà màu đỏ, đột nhiên nhận biết được chất độc này rốt cuộc là độc hại thật sự? Hay là chúng tôi đã vứt nó đi, tôi có nhớ mấy quả thanh lương trà đỏ kia lềnh bềnh dưới rãnh nước, trôi vào một đường cống, liệu tôi có vô tội chăng?

Tại sao ban đầu chúng tôi lại đi chế chất độc? Tôi có thể nhớ ra lòng mình hân hoan thế nào khi khuấy trộn và thêm cái này cái kia, một cảm giác làm ra được trọn vẹn một thứ ma mị. Chế chất độc nó cũng vui như làm bánh vậy. Người ta thích chế chất độc. Nếu các vị không hiểu nổi điều này thì các vị không tài nào hiểu nổi bất kỳ thứ gì.

Margaret Atwood - Những cái kết có hậu

Margaret Atwood

Những cái kết có hậu


John và Mary gặp nhau.

Chuyện gì xảy ra tiếp theo?

Nếu bạn muốn một cái kết có hậu, hãy thử trường hợp A.

A. John và Mary yêu nhau rồi cưới nhau. Cả hai đều có công việc lương cao và xứng đáng, và họ đều thấy công việc của mình thật hào hứng và kích thích. Họ mua một căn nhà đẹp xinh. Giá bất động sản tăng lên. Rốt cuộc, khi có thể thuê người giúp việc sống chung nhà, họ sinh ra hai đứa con, và dành hết thời giờ cho chúng. Bọn trẻ lớn lên khoẻ mạnh. John và Mary có đời sống tình dục hào hứng và kích thích và có những người bạn xứng đáng. Họ đi nghỉ mát vui vẻ bên nhau. Họ nghỉ hưu. Cả hai đều có những thú vui mà họ thấy thật hào hứng và kích thích. Cuối cùng thì họ chết. Đến đây câu chuyện kết thúc.

Friday, August 13, 2021

Viet Thanh Nguyen - Những năm chiến tranh

 Lời người dịch:

Truyện ngắn ‘War Years’ của Viet Thanh Nguyen là một truyện nằm trong tập The Refugees, với ấn bản Việt ngữ xuất bản chính thức ở Việt-nam dưới nhan đề Người tị nạn (dịch giả Phạm Viêm Phương chuyển ngữ). Tuy vậy trong ấn bản Việt ngữ này, truyện ngắn ‘War Years’, vì một số nguyên do dễ đoán và dễ hiểu, đã bị cắt bỏ hoàn toàn. Cách đây ít lâu, trên báo Văn nghệ xuất hiện bản dịch truyện ngắn này (dịch giả Võ Hương Quỳnh chuyển ngữ), thế nhưng đó là một bản dịch bị cắt xén và kiểm duyệt khá nhiều (chưa kể việc bản dịch đó nhiều chỗ dịch sai hoặc thiếu chính xác). Sau đó tôi có liên hệ với bác Phạm Viêm Phương, gợi ý bác nên đăng công khai bản dịch của mình lên một trang mạng nào đó, cho độc giả đọc được trọn vẹn nguyên văn không bị xén và kiểm duyệt. Thế nhưng bác chối từ, vì lẽ bản quyền không phải của bác. Tôn trọng ý bác, và cũng muốn độc giả đọc được bản dịch trọn vẹn, nên tôi quyết định dịch lại truyện này và đăng bản dịch của tôi ở nơi đây, với tư cách cá nhân chia sẻ cho thân hữu và độc giả nói chung. Bản dịch Việt ngữ này của tôi được thực hiện và đăng lên với sự đồng ý của tác giả Viet Thanh Nguyen.

 

***

Monday, February 5, 2018

Lydia Davis - Bọn chuột

Bọn chuột sống giữa bốn bức tường nhà chúng tôi nhưng không quấy rầy nhà bếp. Chúng tôi lấy làm hài lòng nhưng không thể hiểu nổi tại sao chúng không vào bếp nhà chúng tôi, nơi chúng tôi đã đặt bẫy, như chúng vào bếp nhà hàng xóm. Mặc dù chúng tôi lấy làm hài lòng, nhưng chúng tôi cũng bực, bởi bọn chuột cư xử như thể có gì đó bất ổn ở bếp nhà chúng tôi. Điều làm cho việc này còn rối trí hơn nữa chính là chuyện nhà chúng tôi kém ngăn nắp hơn nhiều so với mấy căn nhà hàng xóm. Có nhiều thức ăn nằm đây đó trong bếp, nhiều mẩu vụn trên các kệ bếp và mấy mảnh hành tây bẩn thỉu bám vào chân tủ bếp. Thực tế có quá nhiều thức ăn rơi vãi trong bếp đến mức tôi chỉ có thể nghĩ rằng chính bọn chuột sẽ bị điều đó hạ gục. Trong một căn bếp ngăn nắp, quả là thách thức cho chúng để có thể tìm đủ thức ăn đêm này qua đêm nọ để sống cho đến lúc xuân về. Chúng kiên nhẫn săn lùng và nhấm nháp giờ này qua giờ nọ đến khi thoả ý. Tuy vậy, trong bếp nhà chúng tôi, chúng lại đối diện với một thứ quá ư vượt tầm mức so với kinh nghiệm của chúng đến nỗi chúng không thể đương đầu chuyện đó. Chúng có thể đánh bạo ra ngoài một mấy bước, nhưng rồi cảnh tượng và mùi bao trùm nhanh chóng khiến chúng chạy trở lại vào mấy cái hốc, lòng thấy khó chịu và lúng túng trước sự tình rằng chúng không thể bới tìm thức ăn như việc cần phải làm.

Đoàn Duy chuyển ngữ
Sài-gòn,
2018.02.05
Nguồn:
Davis, Lydia. (2001). Mice. Almost No Memory. Picador.


Tuesday, April 5, 2016

Ngũgĩ wa Thiong’o - Cuộc cách mạng đứng thẳng: Hay là tại sao con người đi với dáng thẳng đứng

Hồi xưa, con người thường đi bằng cả tay lẫn chân, y như mọi sinh vật tứ chi khác. Con người nhanh hơn thỏ, báo hay tê giác. Chân và tay ở gần nhau hơn bất kì cơ quan nào khác: chúng có những khớp nối tương ứng giống nhau: vai và hông; khuỷu tay và đầu gối; mắt cá chân và cổ tay; bàn chân và bàn tay, mỗi cái đều có phần cuối là năm ngón chân và năm ngón tay, với móng ở mỗi đầu ngón chân và ngón tay. Bàn tay và bàn chân có năm ngón được sắp xếp giống nhau từ ngón chân cái và ngón tay cái cho đến ngón chân và ngón tay nhỏ nhất. Thuở đó, ngón tay cái nằm gần các ngón khác, ngón chân cái cũng vậy. Chân và tay là anh em họ của nhau.

Chúng giúp nhau trong việc mang vác cơ thể đi bất cứ đâu cơ thể muốn đến; chợ, cửa hàng, leo lên leo xuống mấy cái cây và mấy ngọn núi, bất cứ đâu cần đến việc di chuyển. Thậm chí ở dưới nước, chúng cũng hợp tác với nhau tốt để giúp cơ thể nổi lên, bơi hoặc lặn xuống. Chúng theo mối quan hệ dân chủ và bình đẳng. Chúng cũng có thể mượn lấy những cái dụng từ sản phẩm của những cơ quan khác, phát âm thanh từ miệng, nghe từ tai, ngửi từ mũi, và cả nhìn từ mắt.

Nhịp điệu và việc phối hợp liền lạc của chúng làm các bộ phận khác vô cùng ganh tị. Chúng tức giận vì phải cho mượn thiên tư đặc biệt của mình cho đám anh em họ đó. Sự ganh tị làm chúng mù quáng trước thực tế rằng chân và tay mang chúng đi mọi nơi. Chúng bắt đầu lập mưu chống lại hai cặp này.

Monday, July 8, 2013

Clarice Lispector - Con gà

 

Đó là con gà mái cho buổi ăn trưa Chủ nhật. Vẫn còn sống, bởi vì lúc ấy mới chín giờ sáng thôi. Nó trông khá yên bình. Nó rúc mình vào góc bếp từ hôm thứ bảy. Nó không nhìn ai cả và không ai chú ý gì đến nó hết. Thậm chí khi họ chọn con gà này, cảm nhận sự thân quen nơi cơ thể nó bằng vẻ thờ ơ, họ không thể cho biết nó đầy đặn hay ốm. Không ai từng đoán được con gà cũng có cảm giác lo âu.

Do đó, thật ngạc nhiên khi họ thấy nó dang rộng đôi cánh ngắn ngủn nhiều lông của mình, phồng ngực lên, và sau hai ba lần cố gắng, nó bay lên bức tường ở sân sau. Nó vẫn còn chần chừ một thoáng – đủ thời gian để người đầu bếp la toáng lên – và ngay sau đó nó đã ở sân hiên nhà hàng xóm, rồi từ nơi đó, bằng một động tác bay vụng về khác, nó lên tới được mái nhà. Ở trên đó con gà, như một món trang trí, đậu tạm nghỉ với vẻ do dự lúc thì đứng bằng chân này, lúc thì chân kia. Gia đình nhà đó hối hả tụ lại và với vẻ sửng sốt họ thấy bữa trưa của mình bật lên trên nền ống khói. Ông chủ nhà, tự nhắc mình về hai chuyện cần phải làm là đôi lúc nên chơi thể thao và cho gia đình một bữa trưa, xuất hiện sặc sỡ khi đang mặc quần bơi và quyết đi theo lối do con gà kia vạch ra: bằng những cú nhảy thận trọng, ông lên được mái nhà nơi có con gà đang chần chừ và run run, rồi nó cấp tốc chọn con đường khác. Màn đuổi nhau giờ đây càng quyết liệt hơn. Từ mái nhà này sang mái nhà nọ, băng qua mấy khu nhà dọc theo con đường. Hầu như không quen với việc tranh đấu tàn bạo thế này để sống còn, con gà phải tự quyết định con đường mình phải theo mà không có sự trợ giúp nào từ đồng loại. Tuy nhiên, người đàn ông nọ lại là kẻ đi săn bẩm sinh. Và bất kể con mồi khốn đốn ra sao, tiếng hò reo chiến thắng sắp sửa diễn ra.