Telemachus li cách
Thuở còn nhỏ lúc tôi nhìn
vào đời cha mẹ, bạn biết
tôi đã nghĩ gì không? Tôi đã nghĩ
thật thương tâm. Giờ tôi nghĩ
thật thương tâm, mà lại còn
loạn trí. Lại còn
rất buồn cười.
— Louise Glück
Telemachus li cách
Thuở còn nhỏ lúc tôi nhìn
vào đời cha mẹ, bạn biết
tôi đã nghĩ gì không? Tôi đã nghĩ
thật thương tâm. Giờ tôi nghĩ
thật thương tâm, mà lại còn
loạn trí. Lại còn
rất buồn cười.
— Louise Glück
Tấm lòng thời đôi khi
Tâm hồn thời hãn hữu
Tận sức thời chỉ muôn một
Hiếm ít – yêu hoàn toàn
— Emily Dickinson
Tháng Năm
Lần ấy trên cầu tôi nhìn xuống
Đám cá hồi đương lật tung trời
Tan thành nhiều mảnh, mấy phiến đá
Bờ tường làm ấm người tôi.
Lội giữa các thân cây xanh rì, các vành lá
Lơi ra và thâm bầm
(Các giếng phun tí hon toàn nhựa)
Mũi giày tôi giờ lấp lánh.
Bên trên cái thóp mềm
Của Ái-nhĩ-lan, tôi nên mang
Giày da thú, lớp lông kề da thịt,
Mà dạo bước khu đất này:
Chẳng phải giếng khoáng kia sao,
Thành lan phủ cỏ, dáng rủ nhoài?
Đoạn thời mạch suối trào tuôn ra
Băng băng ngang mặt nhựa đường.
Tôi quyết kiếm tìm ngôi làng nọ,
Mấy bậu cửa thấp ngát thơm
Nào cúc cu hoa nào hoàng liên hoa,
Cùng ngọn ma trơi trong bóng đêm hè.
— Seamus Heaney
(Wintering Out, 1972)
Những khiêm nhường
Từ ngữ đơn sơ như đôi cánh chim mái
Nó không dối lừa,
Nó không quá tay đi thêu dệt các cái –
Quá đỗi nhát đời.
Ý nghĩ nó lê la khắp tựa tiền đồng
Qua từng triều đại,
Mòn hao thành ra nghĩa rất mực giản đơn,
Ấy vẫn còn lại.
Cỏ dại nào đâu được phép mọc thêm ra,
Nhưng từng chút một
Có mấy thứ trở nên hoa, dẫu cho
Không ai thấy.
— Philip Larkin
Máy cắt
Máy cắt đứng khựng, hai bận; quỳ xuống, tôi thấy
Con nhím gai kẹt khít vào lưỡi dao,
Chết tươi. Nó đã ở trong đám cỏ cao.
Tôi đã gặp nó dạo trước, còn cho nó ăn, một bận.
Giờ tôi cào nát cõi sống khuất kín ấy
Không sao chữa đặng. Đem chôn cất chẳng ích chi:
Sáng hôm sau tôi thức dậy còn nó thời không.
Ngày thứ nhất sau một cái chết, cảnh thiếu vắng mới
Vẫn luôn là như thế; ta phải nên biết giữ
Cho nhau, ta nên ân cần
Khi thời gian còn đó.
— Philip Larkin
Thuở
nhỏ, người ta tìm cách cầm gương bắt lấy tia nắng, mặc dù có lẽ không mấy ai
nghĩ đến việc ấy thật riết. Một tia nắng có thể dịch di trong một vùng đã định;
khi ra ngoài vùng ấy thì nó mất dạng. Một quan sát như thế tuồng như chứng kiến
cái khuynh hướng trong trí óc của nhà khoa học tuổi nhỏ tiến đến suy luận diễn
dịch, nhưng không nhất định là vậy. Đứa nhỏ đơn thuần kinh ngạc thấy rằng thế
giới có trật tự như thế. Thật vậy, dù ta xoay về đâu chăng nữa, nơi nơi đều có
những điều ngạc nhiên tương tự, và thế giới tuồng như là tập hợp một số lượng vô
giới hạn các chi tiết cần chú ý đến.
Thế
giới nền nếp đến độ gây lòng bận tâm không ngớt; không có giới hạn nào cho việc
khám phá những tầng lớp mới hiện ra hoài hoài. Nó tựa hồ cuộc hành trình qua một
mê cung đương phát nhịp đập, đương đổi thay, đương trở lớn thêm trong lúc ta di
chuyển qua nó. Ta thực hiện hành trình này mỗi thân ta, mà đồng thời cũng dự phần
vào sự nghiệp chung của toàn nhân loại, cùng các thần thoại, các tông giáo, các
triết lí, nghệ thuật và sự toàn hảo của khoa học. Lòng hiếu kì nó thôi thúc ta
là thứ không thể nào thoả ý và bởi nó không bớt đi theo dòng thời gian trôi, nên
bản thân điều ấy là đủ lẽ kháng lại việc chết. Mặc dù, nói cho đúng, nhiều người
chúng ta bước vào cửa tử lòng tràn ngập hiếu kì, mong đợi, háo hức muốn biết phía
bên kia nó trông ra làm sao.
Đối
nghịch với hiếu kì là lòng tẻ ngắt, nhưng với những ý kiến dẫn đến kết luận rằng
không còn gì để mà biết lấy, vì không có thứ gì mới dưới ánh mặt trời, thảy chúng
đều sai, đều do lòng tẻ ngắt và cơn bệnh hoạn khiến cho.
Thưa ngài, liệu ngài có thể đoan với tôi rằng khi ta già đi, những cảnh tượng mới hoài hoài sẽ mở ra trước mắt ta, như thể chúng cứ có đó ở mỗi khúc quanh trên con đường thiên lí? Tôi thì đoan được vậy. Chuyện trông như thể rằng mọi thứ đều như nhau, ấy lại khác nhau. Rành rành là ta có già đi; tức là nói rằng, các giác quan sẽ từ bỏ ta, tai ta ngày một ngãng đi, mắt ta yếu dần. Ấy vậy tâm trí ta tìm ra được những lối bù cho những mất mát này bằng khả năng mẫn duệ mà thuở hoa niên ta không sao tiếp cận được. Khi ấy tuổi già bại suy lại càng đáng cho ta đồng cảm hơn nữa, khi tâm trí, tiếp bước các giác quan, sẽ chìm vào giấc ngủ.
Ngục tù (danh từ). Một nơi để phạt và thưởng. Thi sĩ nọ đoan với ta rằng –
"Tường đá không ngục tù thành nên",
nhưng sự kết hợp của tường đá, kí sinh trùng chính trị và thầy dạy đạo lí quyết không phải vườn thơm trái ngọt.
W. S. Merwin
Đứa trẻ đơn độc
Đứa trẻ đơn độc nọ xếp tất cả các món đồ chơi ở trước mặt nó.
“Tới chơi với tớ đi”, nó nói với thảy những ai đến gần. “Tới
xem mấy món đồ chơi tớ có đây.”
Nhưng chúng đi chỗ khác.
Thế là đứa trẻ ấy đập tan tành món thứ nhất trong các món đồ
chơi.
Đoạn những đứa trẻ khác đến nhìn và giúp, và tranh nhau xem
ai có thể đập vỡ các món đồ chơi của đứa trẻ kia.
Nếu một đứa trẻ đơn độc không có đồ chơi, nó sẽ làm ra.
Hồi đáp
Ti bỉ với phường ti bỉ là giấy thông hành,
Cao thượng với hàng cao thượng là bài mộ chí,
Nhìn xem, ở giữa bầu trời mạ vàng kim ấy
In bóng hình gập gãy bao kẻ tử lửng trôi.
Kỉ Băng-hà nay đã đoạn,
Cớ vì sao khắp các xứ băng vẫn còn?
Mũi Hảo-vọng đã tìm ra,
Cớ sao nơi Biển Chết ngàn cánh buồm tranh cạnh?
Tôi tiến vào thế giới đây
Chỉ mang theo giấy, thừng và cái bóng,
Đặng ngay trước cuộc thẩm phán,
Tuyên hô tiếng nói vốn đã lãnh lời phán quyết.
Để nói mi nghe, thế giới,
Ta–không–hề-–tin!
Giả sử dưới chân mi là một ngàn kẻ khiêu chiến,
Vậy thì hãy kể ta vào thành số một ngàn linh một.
Ta không hề tin trời này lam sắc,
Ta không hề tin tiếng sấm dội về,
Ta không hề tin mộng đây là giả,
Ta không hề tin chết vô báo ứng.
Nếu như biển cả phận định gây đê vỡ,
Hãy để nước đắng nồ nà tràn cả hết vào trong tim ta,
Nếu như lục địa phận định phải dâng lên,
Hãy để nhân loại được lần nữa chọn một đỉnh cao sinh tồn.
Một khúc giao mới cùng muôn sao lấp lánh,
Nay điểm tô bầu trời không thứ gì chắn che.
Đó là chữ tượng hình tự năm ngàn năm qua,
Đó là con mắt lặng nhìn của tương lai thế hệ.
— Bắc Đảo
W. S. Merwin
Cát
Con kiến nọ sinh ra trong một đồng-hồ-cát. Trước khi nó chui ra khỏi trứng, không có một thứ gì đáng chú ý – và ai mà nhìn, ai mà ngờ rằng ở mỗi một tuần thời gian lại có một thời khắc là một quả trứng? Và sau khi một con kiến hiện ra, thật quá trễ cho câu hỏi rằng liệu sự ra đời ấy có phải là một sự lầm. Dầu sao, không có một ai để hỏi, ngoại trừ những gia chủ vô danh, những người anh em của nó, cả lớn cả nhỏ hơn nó, cứ huých rồi cọ quẹt người nó, cứ sột soạt đi tới cái cổ hẹp của đồng-hồ, rồi rơi, rồi nằm đó mù, điếc và không mộng mị trong một ngọn núi do chúng chồng lên mà thành, và không bao giờ ấp trứng, dù bản thân ngọn núi ấy cứ lật qua lật lại rồi đẩy chúng từ đỉnh sà xuống một làn như hơi khói tựa hồ các linh hồn nhập cõi thời gian. Vả chăng, không bao giờ có ý nghĩ nào đến với nó rằng mọi sự đã từng hoặc có thể từng khác đi, và chút ít năng lực ngôn lời mà nó bẩm sinh có đặng cũng ngủ vùi bên trong nó tựa như một hạt cát.
Ái tình
Tôi mài dao
Suốt đêm.
Đặng mà đón anh
Trong ánh sáng rực nơi các lưỡi dao,
Và giữa đám ấy,
Tình tôi lấp lánh
Riêng cho đôi mắt anh.
— Radmila Lazić
W. S. Merwin
Cái tổ
Lần nọ, một đôi chim bồ câu tìm ra một cây dù mở xoè có tay cầm treo trên thanh xà, trong căn nhà kho bỏ trống nơi một người chăn cừu đã để lại cây dù kia. Bấy giờ đương xuân. Chúng làm tổ trong tán dù đen ấy. Mái nhà thưa lùa gió khiến dù đu đưa, nhưng không gì khác khuấy rầy đôi chim, hay trứng, hay con đầu lòng của chúng.
Đôi chim non đầu lòng học bay, và chao liệng ngày một xa trên bầu trời miền quê, và không gặp phải sự rủi nào, cho đến ngày kia, khi chúng tự mình bay ra ngoài, trời đổ mưa. Giữa chúng và nhà chúng có hàng tá cái dù mở ra. Thình lình chúng thấy chừng như chúng đang bay lộn ngược. Chúng kinh hãi, như thể chúng nhận ra ngay tắp lự rằng chúng đang ở sai bề của ánh sáng. Chúng cố bay ngửa lên, song chúng bị quật nhào xuống đất, tại đó chúng bị bắt lấy và bị ăn thịt bởi mấy con vật đương rảo quanh đó hằng ngày hằng giờ, đầu luôn ngẩng lên, trông ngóng những thứ rơi rớt xuống.
"Tự nhiên" là cái ta thấy –
Ngọn đồi – buổi ban Chiều –
Con Sóc - Nhật thực - con Ong nghệ kia –
Đâu – Tự nhiên là Trời cao –
Tự nhiên là cái ta nghe –
Chim Bobolink - Biển khơi –
Tiếng sấm – con Dế nọ –
Đâu – Tự nhiên là sự Hoà âm –
Tự nhiên là cái ta biết –
Nhưng không thuật nào nói đặng –
Trí khôn Ta bất lực vô ngần
Trước lẽ Giản đơn của người
— Emily Dickinson
António Lobo Antunes
Lí thuyết và thực hành của những ngày Chủ nhật
Tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế vậy Filomena? Chín giờ anh không cần phải tới
sở làm, em không cần phải tới nhà trẻ lúc tám rưỡi, nên chúng ta dậy trễ, ăn sáng ở quán cà-phê ấy, mua báo, thuê hai cuốn phim ở tiệm
băng video.
(phim hình sự cho anh và phim
lãng mạn cho em)
không ai ra lệnh ta, không ai
đòi ta điều gì, không ai
phiền ta,
vậy tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế vậy Filomena, tại sao luôn vào cùng
giờ đó trên đồng hồ, tại sao có chuyện anh thấy muốn thứ gì đó mà anh không biết là gì, thay vì ở đây cùng em? Và anh yêu em, thật vậy, lẽ
ra anh nên cảm thấy lòng dễ chịu, nhưng lại không, đó chẳng phải nỗi sầu lo, chẳng
phải cơn uất muộn, chỉ là một cảm giác mô hồ, một cơn khó chịu, một nỗi bất an
mà anh không hiểu và tuy vậy anh không thể hình dung anh chỉ một mình, anh không
thể hình dung anh thiếu em, anh yêu gương mặt em, thân thể em, anh cưới em vì tình
yêu, tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế vậy Filomena?
chuyện không liên quan đến khu phố này, anh thích khu phố này, chuyện không liên quan đến căn hộ này, ba phòng là đủ lắm rồi, và ta còn có cả ban-công, quang cảnh, Queluz, con sông, mấy con thuyền, nếu ta muốn ta có thể đến Sintra hay Cascais, đi rạp phim ở Amoreiras, ta có thể đi ngắm đồ ở các cửa hàng, ta có thể đi Cacém chơi bài với anh trai em cùng cô vợ anh ấy, anh trai em nằm ườn trên sofa, râu chưa cạo, tay chống cằm, trông buồn chán hết sức, hay đổi kênh truyền hình và ăn bỏng ngô trong túi giấy bồi và vợ anh ấy trong bếp cứ xuỵt đuổi bọn trẻ con ra ngoài và đang ủi đồ. Em có nghĩ là họ thấy Chủ nhật nó dài không Filomena? Em chui vào bếp để nói chuyện, anh ăn bỏng ngô và lật lướt qua các bức ảnh chụp chuyến đi du thuyền của họ đến Tangier vào tháng Tám
Nỗi sợ
Nỗi sợ truyền từ người sang người,
Không hay biết chi,
Như chiếc lá truyền đi cơn rùng mình
Sang một chiếc khác.
Bỗng chốc toàn bộ cây nhất loạt rung rung,
Mà nào có thấy một làn gió động.
— Charles Simic
Là một con người và sống giữa con người là điều mầu nhiệm, dẫu cho ta biết được các việc gớm ghiếc và các tội ác mà người ta có khả năng thực hiện. Ngày ngày ta cùng nhau dựng nên một tổ ong khổng lồ có hàng triệu ô trong đó ta gửi vào mật ngọt của các tư tưởng, các khám phá, các phát minh, các công việc, các cuộc đời. Ngay cả lối ví von ấy cũng khó lòng chính xác; nó quá tĩnh tại, bởi lẽ công việc chung của ta, dù ta gọi nó bằng tên gì – xã hội, văn minh, polis trong Hi-lạp ngữ – đều luôn biến đổi và tự phô bày ra theo nhiều màu khác nhau, chịu chi phối của thời gian hoặc lịch sử. Lại nữa, đây cũng là một miêu tả chưa đủ đầy, do nó làm lơ điều quan trọng nhất hạng: rằng sự sáng tạo tập thể này được trao sức sống bởi nguồn nhiên liệu riêng tây, ẩn tàng chính là những khát vọng và quyết định cá nhân. Sự lạ lùng về ơn gọi khác thường của con người chủ yếu nằm ở chỗ họ là một sinh vật nực cười, đời đời thiếu chín chắn, vậy nên một bọn trẻ con có tâm tính rất ư thất thường, cười đây khóc đó, lại là minh hoạ rõ nhất cho sự thiếu trang nghiêm của con người. Một vài năm trôi đi, rồi bất thần chúng là người lớn, nắm quyền kiểm soát và được cho là sẵn sàng đưa ra các tuyên cáo về các việc công và thậm chí – ai mà mong chờ điều này kia chứ! – còn tự mình lãnh lấy bổn phận làm cha làm mẹ, mặc dù chuyện hẳn sẽ tốt đó nếu trước nhất họ có hẳn cho mình cả một cuộc đời để sửa soạn cho điều này.