Monday, August 17, 2026

William Wordsworth - [Thế giới với ta quá sung dật]

Thế giới với ta quá sung dật; muộn và sớm,
Thâu nhận và tiêu tốn, khí lực thành ra phế tàn:
Trong Tự nhiên thứ thuộc về ta thật hiếm thấy;
Cả tâm hồn ta đã cho đi tận, bởi món lộc nhờm!
Biển khơi ấy phơi trần bầu ngực dưới trăng suông;
Muôn ngọn gió sẽ rít kêu hàng bao canh dài,
Và nay quần tụ lại tựa như hoa ngủ say;
Trước thứ này, trước mọi thứ, ta là kẻ lạc nhịp.
Nó không lay động ta. – Chúa cao cả! Tôi thà là
Kẻ Dị giáo ngậm lấy một tín niệm xa vắng;
Để tôi đây, đứng ở miền thảo nguyên êm ả,
Thoáng trông thấy điều khiến lòng bớt nỗi trơ vơ;
Mục kích cảnh Proteus trổi lên nơi biển cả;
Cũng nghe được già Triton cất tiếng tù và.

— William Wordsworth

Friday, August 14, 2026

Edvard Kocbek - Cây

Cây

tôi nghe tiếng cây và tôi thấy cây
tôi nằm dưới bóng râm chỗ nó
hoặc chạm nó rồi quật ngã,
chặt thành nhiều khúc rồi cho vào bếp lò
hoặc dùng nó dựng nên căn lán,
bất kể làm gì với nó
nó mãi là cái cây,
bất khả phân, bất khả diệt
tiếng gió xào xạc cả ngày cả đêm,
trong bếp lò, trên giường, trong bóng râm,
giữa các dòng chữ trên tờ báo
và trong làn khói giữa đất trời,
cây như bóng râm và ngơi nghỉ,
cây như chiếc nôi và quan tài,
cây như trung tâm chốn thiên đàng,
cây như tiếng xào xạc và lặng thinh,
cây như cây
và cây như từ ngữ.

— Edvard Kocbek

Wednesday, August 12, 2026

Zbigniew Herbert - Tay-nắm-gõ

Tay-nắm-gõ 

Có mấy kẻ họ trồng
vườn tược trên đầu mình
tóc chính là các lối mòn
đến các thành phố trắng màu và nhiều nắng 

viết với họ thật dễ
họ cứ nhắm đôi mắt lại
tức thì tuôn ra từ nơi vầng trán
hàng bao ảnh tượng 

trí tưởng tượng trong tôi
chính là một mảnh ván
toàn bộ nhạc cụ tôi có
chỉ mỗi một thanh gỗ 

tôi gõ lên tấm ván
và nó lên tiếng đáp lời tôi
có – có
không – không 

kẻ khác thì chuông xanh vọng tiếng rừng cây
chuông xanh vọng tiếng sông bể
tôi thì tay-nắm-gõ
từ mấy khu vườn không người gác canh 

tôi gõ lên tấm ván
và nó lên tiếng đáp
bằng bài thơ khô khốc nhuốm màu đạo lí
có – có
không – không 

— Zbigniew Herbert

Saturday, July 25, 2026

Bắc Đảo - Kì lộ hành - Tự khúc

Cớ sao từ khắc này đến thời cổ
lịch sử đảo hướng mà đi
Cớ sao vạn vật tuần hoàn ấy
quay lưng khỏi đường thời gian
Cớ sao các tin truyền xưa cổ
lại do bia đá tụng ngâm
Cớ sao đế quốc lại suy vong
như vừa tỉnh cơn mộng dài
Cớ sao máu chảy thành sông
lại trước việc đàm binh trên giấy
Cớ sao vẽ ngục tù trên đất
lại nhân danh tự do

Lẽ nào ngoài trời lại có trời
trong lời lại còn lời lặng thinh
điện thì có ái tình đoản mạch
Lẽ nào tuổi thanh xuân lên đường
như từng tờ trên lịch lưu lại
những dấu chân lui thoái
Lẽ nào bầy ngựa buổi đêm
bon chạy về tám phương
đến tận biên trời uống lấy ánh rạng đông
Lẽ nào giang sơn đổi sắc
cùng Trường thành trên giấy
cũng là Rồng Xanh mang ý thơ

Thursday, July 23, 2026

Phỏng vấn Zbigniew Herbert: Đàm thoại về chuyện viết thơ


Phỏng vấn Zbigniew Herbert: Đàm thoại về chuyện viết thơ 

A. Tôi sẽ bắt đầu bằng một vấn đề có thể trông tầm thường. Tôi có chú ý thấy độc giả ở những buổi đọc thơ thường hỏi về sự khởi đầu của người viết. Họ đơn giản muốn biết cách mà anh trở thành một người viết. Anh từng được hỏi mấy câu như vậy chưa?

B. Chắc chắn là đã từng. Tôi nghĩ anh cũng nêu ra khéo đó, do tôi cũng nghĩ rằng những câu hỏi như thế luôn luôn hoặc gần như luôn luôn được định đặt trong cơn khát khao muốn khám phá một bí quyết, một bùa phép huyền bí, một công thức giúp cho những ai mộng về sự nghiệp viết có thể đạt được sự nghiệp ấy.

A. Vậy bí quyết là gì?

B. Tôi đâu biết, đôi khi tôi thấy dường như chẳng có bí quyết gì. Đừng hiểu lầm tôi: tôi không thích hạng được gọi là người viết từ cảm hứng, những người vờ với công chúng rằng họ dịch di trong những cõi mà độc giả tầm trung không tiếp cận nổi. Tôi cũng không thích những người nảy ra hàng bao cuộc phiêu lưu quái lạ trong đời họ, những cuộc phiêu lưu mà họ cho là góp phần vào sự trở thành nghệ sĩ nơi họ. Dạng đặc tả bản thân thành hạng phi phàm là theo trường phái Lãng mạn và hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

A. Tôi không bỏ cuộc dễ dàng đâu. Chắc chắn là khó phủ nhận chuyện rằng một số khía cạnh trong truyện đời người viết, kinh nghiệm chẳng hạn, có thể phát khởi khả năng viết.

B. Tôi dám cả tiếng nói rằng mọi người hoặc hầu hết mọi người đều có khả năng viết, y như việc họ có khả năng vẽ hoặc soạn những khúc nhạc giản đơn. Nếu có khác biệt chi, đó là chuyện thi sĩ sẽ viết cho thi sĩ, nhà soạn nhạc thì chỉ có đồng nghiệp chuyên môn của họ mới hiểu rõ, và hoạ sĩ chỉ vẽ cho hoạ sĩ khác. May thay, chuyện này không phải thế. Khán giả hoàn hảo cũng là một hoạ sĩ, hơn nữa lại thuộc hàng hiếm hoi. Đó là một người có thể tái tạo bản aria, màu sắc của một bức hoạ, một bài thơ, trong chính mình và cùng sự chuẩn xác giống vậy, sự hân hoan vô tư giống vậy, như thể y là tác giả.

A. OK. Cho là anh đúng đi. Có lẽ một độc giả – hoặc thính giả hay khán giả – là một tác giả tiềm năng, tức là nói rằng, họ có thể tạo ra các thứ, nhưng lại lơ là quên đi [việc tạo ra đó], có lẽ do thiếu dũng khí. Nhưng anh có dũng khí. Tôi muốn biết khi nào và tại sao.

B. Được thôi, tôi sẽ nói vầy: có lẽ nó thực sự quan trọng. Tôi bắt đầu viết trong chiến tranh. Trong quyển này, bài thơ ‘Two Drops (Hai giọt nước)’ không phải bài đầu tiên tôi viết, nếu tôi nhớ đúng, nhưng đó là bài đầu tiên tôi có thể kí tên ưng thuận nhiều năm sau đó. Thuở ấy tôi là một thiếu niên. Cuộc chiến đang diễn ra. Suốt một trong những vụ ném bom dữ dội, lúc ấy tôi đang chạy đến chỗ trú ẩn và ở kia trên những bậc thang tôi thoáng thấy – lúc đó tôi đang bị nỗi sợ lôi đi – một cặp trẻ tuổi đang hôn nhau. Cảnh đó thực tình phi phàm trong tình huống ấy.

A. Sao lại phi phàm?

B. Bởi trong những tình huống như cái tôi vừa tả, nỗi kinh hãi trùm lấy mọi người hoàn toàn, khiến họ quên đi những người họ yêu. Bản năng sinh tồn, được đánh thức trong những thời khắc hiểm nguy tột cùng, tràn ngập lòng ta một cơn sợ ghê khiếp, một ý lực duy nhất nhằm cứu mỗi bản thân ta mà thôi. Trong khi hai người kia chống lại tình cảnh tàn khốc cuồng bạo quanh họ bằng làn thế lực mỏng mảnh của ái tình.

A. Và anh quyết định miêu tả sự đó?

B. Không hẳn miêu tả mà là biểu hiện. Anh thấy đó, tôi không có từ ngữ truyền tải lòng phản kháng và chống đối. Lẽ ra tôi có thể viết mấy chữ như: “A, bọn người đáng tởm chúng bây; chúng bây đang giết bao người vô tội, lũ khốn kiếp; cứ chờ đó, chúng bây sẽ bị trừng phạt vì gây ra chuyện này.” Tôi không nói vậy, bởi tôi muốn cho cái tình huống kì dị này một kích thước rộng hơn, hay đúng hơn, muốn cho thấy cái nhìn nhân bản phổ quát, sâu xa hơn của tình huống ấy.

A. Nhưng chẳng phải làm thế sẽ khiến thi ca thành mọt thứ lạnh lẽo, trừu tượng, bị cắt rời khỏi đời sống? Giải thích của anh về nguồn gốc, nguồn cơn cho bài thơ ‘Two Drops’ đã làm rõ nhiều điều đối với tôi, nhưng còn độc giả không biết đến giải thích này thì sao?

B. Không thể, hay thậm chí không cần thiết, giải thích những bài thơ bằng cách miêu tả thời khắc gây cảm hứng làm nên chúng. Đó là nguyên do đầu tiên cho việc tôi không muốn nói về đời mình. Một tác phẩm văn chương, tựa như bao tác phẩm nghệ thuật, cần phải độc lập, có chỗ đứng riêng, tách biệt khỏi những kinh nghiệm vốn là thứ vời gọi ra tác phẩm đó từ cái vùng âm ám chứa đựng bao hình ảnh, cảm xúc, trực giác. Nó phải được tóm bắt lấy trong ngôn ngữ theo một phương cách hướng đến trí tưởng tượng. Tôi vừa viết một bài luận văn về văn hoá Minos, vốn được khám phá ra ở xứ Kreta [Krētē] cách đây bảy mươi năm và kể từ đó đã gây phiền muộn cho giới học giả. Người khám phá ra nền văn hoá ấy, Evans, cùng những nhà khảo cổ khác nữa, đã chuyển lại cho ta những phế tích của những toà cung điện nguy nga, những bức bích hoạ, những món đồ gốm tuyệt diệu từ cách đây ba nghìn năm; khi nhìn vào những giai phẩm ấy, ta mang lòng ngưỡng mộ và kinh thán. Nhưng ta biết quá ít về những cuộc đời của người Minos và cách thức tâm trí họ hoạt động, bởi văn tự của họ (cái được gọi là chữ linearne B và chữ tượng hình) vẫn chưa được giải mã. Theo đó tôi muốn nói rằng chỉ bằng ngôn ngữ thì con người mới được biểu hiện ra đủ đầy – những cơn muộn phiền và những niềm hân hoan, những giá trị mà y ưng thuận, những niềm tin của y.

A. Dù vậy tôi muốn quay lại câu hỏi của mình. Điều ngăn trở độc giả trong việc đọc thi ca đương đại, đối với tôi, dường như là ở cái hơi lạnh lẽo, trừu tượng và có lối trí thức quá đà. Anh chưa từng bị mấy lời chê trách kiểu đó hướng vào mình à?

B. Anh đang động vào một vấn đề rất trọng yếu và tại đây ta phải dọn dẹp bớt mấy ngộ nhận cứ mọc lên xung quanh thi ca đương đại. Tôi sẽ không nói về toàn bộ thi ca đương dại, vì không thể nào nói vậy, nền thi ca này được tạo nên từ nhiều xu hướng và phần nhiều trong số ấy tôi không mang lòng đồng cảm. Nhưng tôi sẽ nói về cách mình thấy những thứ này. Tuy vậy, để tôi xoay chuyển vai trò chúng ta lại một lúc và hỏi anh một câu. Anh nghĩ diều gì quan trọng nhất đối với một tác giả?

Wednesday, July 15, 2026

Yanabu Akira - ‘Liberty-Freedom’: Sự phản kháng của Yanagita Kunio

 Yanabu Akira

Liberty-Freedom: Sự phản kháng của Yanagita Kunio

 

* “Jiyū: Yanagita Kunio no hanpatsu” 自由:柳田國男の反発, trong Yanabu Akira 柳父章, Honyakugo seiritsu 翻訳語成立事情 (Conditions surrounding the formation of translated terms = Kiến lập tình huống nơi những từ ngữ được phiên dịch) (Tokyo: Iwanami shinsho, 1994), tr. 173–91.

1. Jiyū 自由 [tự do], chữ nhầm chữ

Yanagita Kunio 柳田國男 (1875–1962) thuật lại hồi ức sau:

Xin cử ra một ví dụ, hồi lên năm lên sáu, tôi gặp phải cụm “jiyū minken自由民權 (tự do dân quyền), ngay khi từ này tràn vào [Nhật] như cơn sóng. Nhà tôi ở làng, ngày nọ một thanh niên cờ bạc say bí tỉ và ngủ gục ngay trên ngưỡng cửa nhà chúng tôi, tịnh không động đậy. Tôi tìm cách nhờ người kéo hắn đi, rồi người này người kia nắm lấy thân hắn và tìm cách nhấc hắn đi, lúc ấy hắn la lên: “Quyền tự do của tôi” ( jiyū no ken da 自由の權だ). Tôi nhớ rõ là hắn hét lên. Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức. Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu. Trải một thời gian lâu sau đó, tôi không thể tự mình rũ bỏ lòng phản cảm đối với Itagakia Taisuke (1837–1919), thủ lĩnh của Phong trào Tự do Dân quyền thời đại đó.[1] (一つの例を舉げますと、私は五つ六つの頃に、丁度日本に「自由民權」といふ言葉が潮の如くに流れ込んで来る時代に遭遇致しまして、私の家は村でありますが、或日一人の若い博徒が泥醉して自分の家の門口に寢てしまつて動かぬ、それを立退かせようとして、内からも外からも色々な人が手を掛けて起さうとしますと、その人が「自由の權だ」といつて怒鳴つたことを記憶して居ります。これが自由といふ言葉に対する私達の概念を頗る混亂させまして、何だか非常に厭な困つたもののやうに感じ、久しい間その時代の自由民權運動の首領であつた板垣退助さんに対する反感のやうなものが拔け切らずに 居ります。)

Có hai thứ tôi muốn lưu ý trong đoạn trích dẫn này. Thứ nhất là sự tình rằng, mặc dù say xỉn và ngủ thiếp đi ở ngưỡng cửa nhà người khác, tay thanh niên cờ bạc ấy vẫn thốt rõ lên lời rằng: “Quyền tự do của tôi”. Tôi đặc biệt lưu tâm đến cách từ jiyū được dùng trong trường hợp này. Đây là một thuật ngữ được lưu hành thời điểm đó, và bấy giờ người ta dùng nó ở nhiều tình huống khác nhau. Cũng có nhiều trường hợp mà từ này được dùng không phù hợp, như tôi sẽ giới thiệu bên dưới. Nghĩa của nó trong trường hợp như vậy không được người ta hiểu rõ. Vậy nên, ta có một từ có nghĩa không được hiểu rõ, dầu vậy người ta sẵn lòng dùng nó và nó trở nên thịnh hành. Như tôi đã lưu ý mấy lần, đây thường là một trong những kết quả đặc biệt của các dịch ngữ.

Luận điểm còn lại của tôi phát xuất từ góc nhìn của Yanagita Kunio về sự cố này. “Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức”, ông viết như vậy. “Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu”. Dầu đây là một trải nghiệm thời ấu thơ, song “trải một thời gian lâu sau đó” sự này vẫn tiếp diễn. Khi nghĩa của một từ được nhiều người hiểu được, thì nhìn nhận của người ta về nó như một từ tốt hay xấu là điều trở nên hệ trọng cực kì. Trong trường hợp đây, từ này được liên hệ với một hành vi quyền hoạnh của tay thanh niên vô danh nọ. Song, đấy chưa phải tất cả, bởi lẽ bản thân từ jiyū vốn đã mang một nghĩa tiêu cực.

Tuesday, July 14, 2026

Emily Dickinson - 487/474 - [Mi yêu Chúa – mi không thấy đặng]

 (Johnson 487/Franklin 474) 

Mi yêu Chúa – mi không thấy đặng –
Mi viết cho Người – mọi ngày –
Một mẩu thư – lúc mi tỉnh thức –
Rồi sau đó trong Ngày.

Một bức Thư Dài dặc – mi nhớ dường bao –
Và vui thích dường nào khi thấy –
Nhưng rồi Nhà Người – cách chỉ một Bước –
Và Nhà Ta – chốn Thiên đàng – Mi sẽ thấy.

— Emily Dickinson

Sunday, July 5, 2026

Emily Dickinson - 675/772 - [Dầu tinh chất được vắt]

(Johnson 675 / Franklin 772)

Dầu tinh chất – được vắt –
Thức tinh du từ Hoa hồng
Nào được ép ra do Mặt trời – mà thôi –
Nó là món quà của đinh ốc –

Hoa hồng Thông thường – mục rữa –
Nhưng thứ này – ở tấm áo lót Quý bà
Làm nên mùa Hạ – khi Quý bà nằm giữa
Đám lá hương thảo ngát toả khôn nguôi –

— Emily Dickinson

Saturday, June 27, 2026

Umberto Saba - Goal

Năm bài thơ dành cho trận bóng ấy (5): Goal 

Thủ môn sụp xuống sau lần cứu đỡ
hoài công vừa qua, mặt úp xuống sân,
đặng không phải thấy cảnh tượng buốt lòng.
Đồng đội khuỵu bên, lời thốt tay đưa
gắng sức vực anh đứng thẳng dậy,
bỗng thấy anh giàn giụa nước mắt.

Đám đông – một khối cuồng mê – tuồng như
tràn vào sân. Quanh kẻ ghi bàn ấy
lao tới quàng cổ là những người anh em.
Nào có mấy thời khắc hoàn mĩ dường này,
dưới ánh dương, lại được trao cho
những kẻ đương đắm trong hận và yêu.

Thủ môn đàng kia lưu lại kề bên
mành lưới chưa rung. Nhưng hồn thời không –
chỉ mỗi tấm thân tại đó một mình.
Cơn sướng khoái lộn trên không một vòng,
rồi gửi gắm đi mấy nụ hôn xa.
Cuộc vui này – anh nói – tôi cũng dự phần.

— Umberto Saba

Saturday, May 23, 2026

Bắc Đảo - Đến nơi

Đến nơi

thuở đó tôi hãy còn tuổi nhỏ
nhọc mệt giống như một chiếc bình
đợi chờ cơn nộ dâng lên

à cơn nộ của tháng năm

ánh lửa hổ thẹn a đêm đen còn mãi
ở trong sách ra sinh vào tử
bậc thánh đà mở bày ý nghĩa của mùa đông

à ý nghĩa của xuất phát

bao nức nở tụ hội ngẩng đầu lên
thét một tiếng lớn
bị chúa sót quên rồi

— Bắc Đảo

Monday, May 18, 2026

Louise Glück - Telemachus li cách

Telemachus li cách

Thuở còn nhỏ lúc tôi nhìn
vào đời cha mẹ, bạn biết
tôi đã nghĩ gì không? Tôi đã nghĩ
thật thương tâm. Giờ tôi nghĩ
thật thương tâm, mà lại còn
loạn trí. Lại còn
rất buồn cười.

— Louise Glück

Sunday, May 17, 2026

Emily Dickinson - 1680/1727 - [Tấm lòng thời đôi khi]

Tấm lòng thời đôi khi
Tâm hồn thời hãn hữu
Tận sức thời chỉ muôn một
Hiếm ít – yêu hoàn toàn

— Emily Dickinson

Saturday, May 16, 2026

Seamus Heaney - Tháng Năm

Tháng Năm 

Lần ấy trên cầu tôi nhìn xuống
Đám cá hồi đương lật tung trời
Tan thành nhiều mảnh, mấy phiến đá
Bờ tường làm ấm người tôi.

Lội giữa các thân cây xanh rì, các vành lá
Lơi ra và thâm bầm
(Các giếng phun tí hon toàn nhựa)
Mũi giày tôi giờ lấp lánh.

Bên trên cái thóp mềm
Của Ái-nhĩ-lan, tôi nên mang
Giày da thú, lớp lông kề da thịt,
Mà dạo bước khu đất này:

Chẳng phải giếng khoáng kia sao,
Thành lan phủ cỏ, dáng rủ nhoài?
Đoạn thời mạch suối trào tuôn ra
Băng băng ngang mặt nhựa đường.

Tôi quyết kiếm tìm ngôi làng nọ,
Mấy bậu cửa thấp ngát thơm
Nào cúc cu hoa nào hoàng liên hoa,
Cùng ngọn ma trơi trong bóng đêm hè.

— Seamus Heaney
     (Wintering Out, 1972)

Wednesday, May 6, 2026

Philip Larkin - Những khiêm nhường



Những khiêm nhường
 

Từ ngữ đơn sơ như đôi cánh chim mái
Nó không dối lừa,
Nó không quá tay đi thêu dệt các cái –
Quá đỗi nhát đời.

Ý nghĩ nó lê la khắp tựa tiền đồng
Qua từng triều đại,
Mòn hao thành ra nghĩa rất mực giản đơn,
Ấy vẫn còn lại.

Cỏ dại nào đâu được phép mọc thêm ra,
Nhưng từng chút một
Có mấy thứ trở nên hoa, dẫu cho
Không ai thấy.

— Philip Larkin

Philip Larkin - Máy cắt

Máy cắt

Máy cắt đứng khựng, hai bận; quỳ xuống, tôi thấy
Con nhím gai kẹt khít vào lưỡi dao,
Chết tươi. Nó đã ở trong đám cỏ cao.

Tôi đã gặp nó dạo trước, còn cho nó ăn, một bận.
Giờ tôi cào nát cõi sống khuất kín ấy
Không sao chữa đặng. Đem chôn cất chẳng ích chi:

Sáng hôm sau tôi thức dậy còn nó thời không.
Ngày thứ nhất sau một cái chết, cảnh thiếu vắng mới
Vẫn luôn là như thế; ta phải nên biết giữ

Cho nhau, ta nên ân cần
Khi thời gian còn đó.

— Philip Larkin

Monday, May 4, 2026

Czesław Miłosz - Miłosz ABC – Lòng hiếu kì (curiosity)

Thuở nhỏ, người ta tìm cách cầm gương bắt lấy tia nắng, mặc dù có lẽ không mấy ai nghĩ đến việc ấy thật riết. Một tia nắng có thể dịch di trong một vùng đã định; khi ra ngoài vùng ấy thì nó mất dạng. Một quan sát như thế tuồng như chứng kiến cái khuynh hướng trong trí óc của nhà khoa học tuổi nhỏ tiến đến suy luận diễn dịch, nhưng không nhất định là vậy. Đứa nhỏ đơn thuần kinh ngạc thấy rằng thế giới có trật tự như thế. Thật vậy, dù ta xoay về đâu chăng nữa, nơi nơi đều có những điều ngạc nhiên tương tự, và thế giới tuồng như là tập hợp một số lượng vô giới hạn các chi tiết cần chú ý đến.

Thế giới nền nếp đến độ gây lòng bận tâm không ngớt; không có giới hạn nào cho việc khám phá những tầng lớp mới hiện ra hoài hoài. Nó tựa hồ cuộc hành trình qua một mê cung đương phát nhịp đập, đương đổi thay, đương trở lớn thêm trong lúc ta di chuyển qua nó. Ta thực hiện hành trình này mỗi thân ta, mà đồng thời cũng dự phần vào sự nghiệp chung của toàn nhân loại, cùng các thần thoại, các tông giáo, các triết lí, nghệ thuật và sự toàn hảo của khoa học. Lòng hiếu kì nó thôi thúc ta là thứ không thể nào thoả ý và bởi nó không bớt đi theo dòng thời gian trôi, nên bản thân điều ấy là đủ lẽ kháng lại việc chết. Mặc dù, nói cho đúng, nhiều người chúng ta bước vào cửa tử lòng tràn ngập hiếu kì, mong đợi, háo hức muốn biết phía bên kia nó trông ra làm sao.

Đối nghịch với hiếu kì là lòng tẻ ngắt, nhưng với những ý kiến dẫn đến kết luận rằng không còn gì để mà biết lấy, vì không có thứ gì mới dưới ánh mặt trời, thảy chúng đều sai, đều do lòng tẻ ngắt và cơn bệnh hoạn khiến cho.

Thưa ngài, liệu ngài có thể đoan với tôi rằng khi ta già đi, những cảnh tượng mới hoài hoài sẽ mở ra trước mắt ta, như thể chúng cứ có đó ở mỗi khúc quanh trên con đường thiên lí? Tôi thì đoan được vậy. Chuyện trông như thể rằng mọi thứ đều như nhau, ấy lại khác nhau. Rành rành là ta có già đi; tức là nói rằng, các giác quan sẽ từ bỏ ta, tai ta ngày một ngãng đi, mắt ta yếu dần. Ấy vậy tâm trí ta tìm ra được những lối bù cho những mất mát này bằng khả năng mẫn duệ mà thuở hoa niên ta không sao tiếp cận được. Khi ấy tuổi già bại suy lại càng đáng cho ta đồng cảm hơn nữa, khi tâm trí, tiếp bước các giác quan, sẽ chìm vào giấc ngủ.

Monday, April 13, 2026

Ambrose Bierce - The Devil's Dictionary - Ngục tù (prison)

 Ngục tù (danh từ). Một nơi để phạt và thưởng. Thi sĩ nọ đoan với ta rằng –

                    "Tường đá không ngục tù thành nên",

nhưng sự kết hợp của tường đá, kí sinh trùng chính trị và thầy dạy đạo lí quyết không phải vườn thơm trái ngọt.

Tuesday, March 31, 2026

W. S. Merwin - Đứa trẻ đơn độc

W. S. Merwin

Đứa trẻ đơn độc

Đứa trẻ đơn độc nọ xếp tất cả các món đồ chơi ở trước mặt nó.

“Tới chơi với tớ đi”, nó nói với thảy những ai đến gần. “Tới xem mấy món đồ chơi tớ có đây.”

Nhưng chúng đi chỗ khác.

Thế là đứa trẻ ấy đập tan tành món thứ nhất trong các món đồ chơi.

Đoạn những đứa trẻ khác đến nhìn và giúp, và tranh nhau xem ai có thể đập vỡ các món đồ chơi của đứa trẻ kia.

Nếu một đứa trẻ đơn độc không có đồ chơi, nó sẽ làm ra.

Sunday, March 29, 2026

Bắc Đảo - Hồi đáp

Hồi đáp

Ti bỉ với phường ti bỉ là giấy thông hành,
Cao thượng với hàng cao thượng là bài mộ chí,
Nhìn xem, ở giữa bầu trời mạ vàng kim ấy
In bóng hình gập gãy bao kẻ tử lửng trôi.

Kỉ Băng-hà nay đã đoạn,
Cớ vì sao khắp các xứ băng vẫn còn?
Mũi Hảo-vọng đã tìm ra,
Cớ sao nơi Biển Chết ngàn cánh buồm tranh cạnh?

Tôi tiến vào thế giới đây
Chỉ mang theo giấy, thừng và cái bóng,
Đặng ngay trước cuộc thẩm phán,
Tuyên hô tiếng nói vốn đã lãnh lời phán quyết.

Để nói mi nghe, thế giới,
Ta–không–hề-–tin!
Giả sử dưới chân mi là một ngàn kẻ khiêu chiến,
Vậy thì hãy kể ta vào thành số một ngàn linh một.

Ta không hề tin trời này lam sắc,
Ta không hề tin tiếng sấm dội về,
Ta không hề tin mộng đây là giả,
Ta không hề tin chết vô báo ứng.

Nếu như biển cả phận định gây đê vỡ,
Hãy để nước đắng nồ nà tràn cả hết vào trong tim ta,
Nếu như lục địa phận định phải dâng lên,
Hãy để nhân loại được lần nữa chọn một đỉnh cao sinh tồn.

Một khúc giao mới cùng muôn sao lấp lánh,
Nay điểm tô bầu trời không thứ gì chắn che.
Đó là chữ tượng hình tự năm ngàn năm qua,
Đó là con mắt lặng nhìn của tương lai thế hệ.

— Bắc Đảo

Saturday, March 28, 2026

W. S. Merwin - Cát


W. S. Merwin

Cát

Con kiến nọ sinh ra trong một đồng-hồ-cát. Trước khi nó chui ra khỏi trứng, không có một thứ gì đáng chú ý – và ai mà nhìn, ai mà ngờ rằng ở mỗi một tuần thời gian lại có một thời khắc là một quả trứng? Và sau khi một con kiến hiện ra, thật quá trễ cho câu hỏi rằng liệu sự ra đời ấy có phải là một sự lầm. Dầu sao, không có một ai để hỏi, ngoại trừ những gia chủ vô danh, những người anh em của nó, cả lớn cả nhỏ hơn nó, cứ huých rồi cọ quẹt người nó, cứ sột soạt đi tới cái cổ hẹp của đồng-hồ, rồi rơi, rồi nằm đó mù, điếc và không mộng mị trong một ngọn núi do chúng chồng lên mà thành, và không bao giờ ấp trứng, dù bản thân ngọn núi ấy cứ lật qua lật lại rồi đẩy chúng từ đỉnh sà xuống một làn như hơi khói tựa hồ các linh hồn nhập cõi thời gian. Vả chăng, không bao giờ có ý nghĩ nào đến với nó rằng mọi sự đã từng hoặc có thể từng khác đi, và chút ít năng lực ngôn lời mà nó bẩm sinh có đặng cũng ngủ vùi bên trong nó tựa như một hạt cát.

Wednesday, March 25, 2026

Radmila Lazić - Ái tình

Ái tình

Tôi mài dao
Suốt đêm.
Đặng mà đón anh
Trong ánh sáng rực nơi các lưỡi dao,
Và giữa đám ấy,
Tình tôi lấp lánh
Riêng cho đôi mắt anh.

— Radmila Lazić

Friday, March 20, 2026

W. S. Merwin - Cái tổ


W. S. Merwin

Cái tổ

Lần nọ, một đôi chim bồ câu tìm ra một cây dù mở xoè có tay cầm treo trên thanh xà, trong căn nhà kho bỏ trống nơi một người chăn cừu đã để lại cây dù kia. Bấy giờ đương xuân. Chúng làm tổ trong tán dù đen ấy. Mái nhà thưa lùa gió khiến dù đu đưa, nhưng không gì khác khuấy rầy đôi chim, hay trứng, hay con đầu lòng của chúng.

Đôi chim non đầu lòng học bay, và chao liệng ngày một xa trên bầu trời miền quê, và không gặp phải sự rủi nào, cho đến ngày kia, khi chúng tự mình bay ra ngoài, trời đổ mưa. Giữa chúng và nhà chúng có hàng tá cái dù mở ra. Thình lình chúng thấy chừng như chúng đang bay lộn ngược. Chúng kinh hãi, như thể chúng nhận ra ngay tắp lự rằng chúng đang ở sai bề của ánh sáng. Chúng cố bay ngửa lên, song chúng bị quật nhào xuống đất, tại đó chúng bị bắt lấy và bị ăn thịt bởi mấy con vật đương rảo quanh đó hằng ngày hằng giờ, đầu luôn ngẩng lên, trông ngóng những thứ rơi rớt xuống.

Tuesday, February 3, 2026

Emily Dickinson - 668 - ["Tự nhiên" là cái ta thấy]

"Tự nhiên" là cái ta thấy –
Ngọn đồi – buổi ban Chiều –
Con Sóc - Nhật thực - con Ong nghệ kia –
Đâu – Tự nhiên là Trời cao –
Tự nhiên là cái ta nghe –
Chim Bobolink - Biển khơi –
Tiếng sấm – con Dế nọ –
Đâu – Tự nhiên là sự Hoà âm –
Tự nhiên là cái ta biết –
Nhưng không thuật nào nói đặng –
Trí khôn Ta bất lực vô ngần
Trước lẽ Giản đơn của người

— Emily Dickinson

Sunday, January 25, 2026

António Lobo Antunes - Lí thuyết và thực hành của những ngày Chủ nhật


António Lobo Antunes

Lí thuyết và thực hành của những ngày Chủ nhật

Tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế
vậy Filomena? Chín giờ anh không cần phải tới sở làm, em không cần phải tới nhà trẻ lúc tám rưỡi, nên chúng ta dậy trễ, ăn sáng ở quán cà-phê ấy, mua báo, thuê hai cuốn phim ở tiệm băng video.

(phim
hình sự cho anh và phim lãng mạn cho em)

không ai ra lệnh
ta, không ai đòi ta điều gì, không ai phiền ta, vậy tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế vậy Filomena, tại sao luôn vào cùng giờ đó trên đồng hồ, tại sao có chuyện anh thấy muốn thứ gì đó mà anh không biết là gì, thay vì ở đây cùng em? Và anh yêu em, thật vậy, lẽ ra anh nên cảm thấy lòng dễ chịu, nhưng lại không, đó chẳng phải nỗi sầu lo, chẳng phải cơn uất muộn, chỉ là một cảm giác mô hồ, một cơn khó chịu, một nỗi bất an mà anh không hiểu và tuy vậy anh không thể hình dung anh chỉ một mình, anh không thể hình dung anh thiếu em, anh yêu gương mặt em, thân thể em, anh cưới em vì tình yêu, tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế vậy Filomena?

chuyện không liên quan đến khu phố này, anh thích khu phố này, chuyện không liên quan đến căn hộ này, ba phòng là đủ lắm rồi, và ta còn có cả ban-công, quang cảnh, Queluz, con sông, mấy con thuyền, nếu ta muốn ta có thể đến Sintra hay Cascais, đi rạp phim ở Amoreiras, ta có thể đi ngắm đồ ở các cửa hàng, ta có thể đi Cacém chơi bài với anh trai em cùng cô vợ anh ấy, anh trai em nằm ườn trên sofa, râu chưa cạo, tay chống cằm, trông buồn chán hết sức, hay đổi kênh truyền hình và ăn bỏng ngô trong túi giấy bồi và vợ anh ấy trong bếp cứ xuỵt đuổi bọn trẻ con ra ngoài và đang ủi đồ. Em có nghĩ là họ thấy Chủ nhật nó dài không Filomena? Em chui vào bếp để nói chuyện, anh ăn bỏng ngô và lật lướt qua các bức ảnh chụp chuyến đi du thuyền của họ đến Tangier vào tháng Tám

Wednesday, January 7, 2026

Charles Simic - Nỗi sợ

Nỗi sợ

Nỗi sợ truyền từ người sang người,
Không hay biết chi,
Như chiếc lá truyền đi cơn rùng mình
Sang một chiếc khác.

Bỗng chốc toàn bộ cây nhất loạt rung rung,
Mà nào có thấy một làn gió động.

— Charles Simic

Friday, January 2, 2026

Czesław Miłosz - Miłosz ABC – Sự mầu nhiệm (miraculousness)

Là một con người và sống giữa con người là điều mầu nhiệm, dẫu cho ta biết được các việc gớm ghiếc và các tội ác mà người ta có khả năng thực hiện. Ngày ngày ta cùng nhau dựng nên một tổ ong khổng lồ có hàng triệu ô trong đó ta gửi vào mật ngọt của các tư tưởng, các khám phá, các phát minh, các công việc, các cuộc đời. Ngay cả lối ví von ấy cũng khó lòng chính xác; nó quá tĩnh tại, bởi lẽ công việc chung của ta, dù ta gọi nó bằng tên gì – xã hội, văn minh, polis trong Hi-lạp ngữ – đều luôn biến đổi và tự phô bày ra theo nhiều màu khác nhau, chịu chi phối của thời gian hoặc lịch sử. Lại nữa, đây cũng là một miêu tả chưa đủ đầy, do nó làm lơ điều quan trọng nhất hạng: rằng sự sáng tạo tập thể này được trao sức sống bởi nguồn nhiên liệu riêng tây, ẩn tàng chính là những khát vọng và quyết định cá nhân. Sự lạ lùng về ơn gọi khác thường của con người chủ yếu nằm ở chỗ họ là một sinh vật nực cười, đời đời thiếu chín chắn, vậy nên một bọn trẻ con có tâm tính rất ư thất thường, cười đây khóc đó, lại là minh hoạ rõ nhất cho sự thiếu trang nghiêm của con người. Một vài năm trôi đi, rồi bất thần chúng là người lớn, nắm quyền kiểm soát và được cho là sẵn sàng đưa ra các tuyên cáo về các việc công và thậm chí – ai mà mong chờ điều này kia chứ! – còn tự mình lãnh lấy bổn phận làm cha làm mẹ, mặc dù chuyện hẳn sẽ tốt đó nếu trước nhất họ có hẳn cho mình cả một cuộc đời để sửa soạn cho điều này.