Thuở
nhỏ, người ta tìm cách cầm gương bắt lấy tia nắng, mặc dù có lẽ không mấy ai
nghĩ đến việc ấy thật riết. Một tia nắng có thể dịch di trong một vùng đã định;
khi ra ngoài vùng ấy thì nó mất dạng. Một quan sát như thế tuồng như chứng kiến
cái khuynh hướng trong trí óc của nhà khoa học tuổi nhỏ tiến đến suy luận diễn
dịch, nhưng không nhất định là vậy. Đứa nhỏ đơn thuần kinh ngạc thấy rằng thế
giới có trật tự như thế. Thật vậy, dù ta xoay về đâu chăng nữa, nơi nơi đều có
những điều ngạc nhiên tương tự, và thế giới tuồng như là tập hợp một số lượng vô
giới hạn các chi tiết cần chú ý đến.
Thế
giới nền nếp đến độ gây lòng bận tâm không ngớt; không có giới hạn nào cho việc
khám phá những tầng lớp mới hiện ra hoài hoài. Nó tựa hồ cuộc hành trình qua một
mê cung đương phát nhịp đập, đương đổi thay, đương trở lớn thêm trong lúc ta di
chuyển qua nó. Ta thực hiện hành trình này mỗi thân ta, mà đồng thời cũng dự phần
vào sự nghiệp chung của toàn nhân loại, cùng các thần thoại, các tông giáo, các
triết lí, nghệ thuật và sự toàn hảo của khoa học. Lòng hiếu kì nó thôi thúc ta
là thứ không thể nào thoả ý và bởi nó không bớt đi theo dòng thời gian trôi, nên
bản thân điều ấy là đủ lẽ kháng lại việc chết. Mặc dù, nói cho đúng, nhiều người
chúng ta bước vào cửa tử lòng tràn ngập hiếu kì, mong đợi, háo hức muốn biết phía
bên kia nó trông ra làm sao.
Đối
nghịch với hiếu kì là lòng tẻ ngắt, nhưng với những ý kiến dẫn đến kết luận rằng
không còn gì để mà biết lấy, vì không có thứ gì mới dưới ánh mặt trời, thảy chúng
đều sai, đều do lòng tẻ ngắt và cơn bệnh hoạn khiến cho.
Thưa ngài, liệu ngài có thể đoan với tôi rằng khi ta già đi, những cảnh tượng mới hoài hoài sẽ mở ra trước mắt ta, như thể chúng cứ có đó ở mỗi khúc quanh trên con đường thiên lí? Tôi thì đoan được vậy. Chuyện trông như thể rằng mọi thứ đều như nhau, ấy lại khác nhau. Rành rành là ta có già đi; tức là nói rằng, các giác quan sẽ từ bỏ ta, tai ta ngày một ngãng đi, mắt ta yếu dần. Ấy vậy tâm trí ta tìm ra được những lối bù cho những mất mát này bằng khả năng mẫn duệ mà thuở hoa niên ta không sao tiếp cận được. Khi ấy tuổi già bại suy lại càng đáng cho ta đồng cảm hơn nữa, khi tâm trí, tiếp bước các giác quan, sẽ chìm vào giấc ngủ.
Tôi
tôn trọng và nghe lòng đồng cảm đối với những nhà tư tưởng và nhà thơ có lòng
khao khát tri thức vượt quá ranh giới của cái chết. Thiên đàng của Swedenborg dựa
vào sự thủ đắc tri thức không ngừng cùng sự biến đổi tri thức thành những “công
dụng” (usus), bởi lẽ một người thẩm định mẫn cán của Uỷ hội Khai khoáng
Hoàng gia còn có thể hình dung thiên đàng ra sao được nữa? Một William Blake tuổi
bảy mươi đã chết khi đang hát những khúc thánh ca, tin mãnh liệt – không chỉ
tin mà còn biết – rằng ông sẽ được tống vận đến vùng đất mà tại đó người ta thực
hiện các cuộc săn lùng trí thức đời đời và không còn chuyện phí hoài sinh lực
hay trí tưởng tượng.
Lòng
hiếu kì hẳn là một tình cảm dữ dội nếu trong hàng nghìn năm qua đã có quá nhiều
người tìm cách khám phá, chạm, đặt tên, hiểu một thực tại “n” chiều lẩn khuất. Người
kia thông thái dường bao khi nói rằng chúng ta tựa như những hình phẳng hai chiều
ở trên một tờ giấy, mà trong mắt họ thật khó giải thích chuyện tồn tại một thứ bên
trên cách tờ giấy đó một xentimét ở chiều thứ ba, chứ chưa kể đến những chiều
khác.
Nguồn:
Czesław Miłosz; Miłosz’s ABC’s (bản dịch Anh văn của Madeline G.
Levine); Farrar, Straus and Giroux, 2001.
.jpg)
No comments:
Post a Comment