Showing posts with label The Book of Disquiet. Show all posts
Showing posts with label The Book of Disquiet. Show all posts

Sunday, January 1, 2023

Fernando Pessoa - Sách của nỗi bất an - 322

Hoàng hôn tản mác theo những cụm mây lơ thơ lan khắp cả bầu trời. Những ánh chiếu dịu nhẹ đủ màu tràn khắp hàng bao lớp khí trên cao và lơ mơ bồng bềnh trôi thỏm vào mảng trời mênh mông lấm bao vết bầm dập thương tâm. Trên những mái nhà cao, nửa phần sáng màu, nửa phần bóng tối, mấy tia nắng uể oải sau cuối của ánh tà dương khoác lấy những sắc màu không thuộc về chúng mà cũng chẳng thuộc về những hình hài mà chúng đậu lên. Một vùng bình yên mênh mông bên trên bề mặt ồn ã của thành phố rồi đây cũng tự nó lắng xuống thành chốn an tĩnh. Vượt trên màu và thanh âm, mọi thứ thảy đều hít vào một hơi thật sâu thật sẽ.

Những toà nhà sơn phết mà mặt trời không trông tới được, chúng dần mang lấy những tông màu xám. Có hơi lạnh quanh những sắc màu xám đậm nhạt khác nhau ấy. Một nỗi bất an bé mọn thiếp ngủ nơi những thung lũng giả cách do đường phố mạo nên. Nó thiếp ngủ và an tĩnh. Rồi dần dà, trên những cụm thấp nhất của đám mây cao kia ánh sáng bắt đầu trở nên âm ám; duy chỉ ở cụm mây nhỏ ấy, lửng lơ trên mọi thứ tựa hồ một đại bàng trắng, mặt trời hãy còn mỉm miệng cười toả ra một ánh vàng xa xăm.

Mọi thứ mà tôi tìm kiếm ở đời bản thân tôi từ bỏ đi chính là bởi tôi phải đi tìm kiếm nó. Tôi giống một kẻ mang trí lơ đãng đi tìm một thứ, rồi trong cơn mộng ảo giữa cuộc tìm ấy, y quên bẵng luôn thứ đó là gì. Thực hơn cả vật được tìm kiếm là cái cử chỉ có thực của đôi bàn tay hiển hiện đương tìm kiếm, xoay lật, nhấc lên, đặt xuống, và chúng tồn tại, dài và trắng, với đúng năm ngón mỗi bên.

Mọi thứ tôi từng có tựa hồ bầu trời vút cao này, đa hình sắc mà tương đồng, toàn những mảnh tả tơi mà một ánh sáng xa xăm không chạm tay tới được, những mẩu vụn rời của một cuộc sống giả hiệu mà cái chết, đứng từ xa, tráng lên lớp vàng kim, bằng cái mỉm cười buồn sầu của sự thật nguyên vẹn. Phải, mọi thứ mà tôi trở nên bấy nay phát xuất từ việc tôi không biết cách kiếm tìm, như một tay phiên hầu của vùng đầm lầy buổi chiều hôm, một ông hoàng bị ruồng rẫy của một đô thành đầy những lăng mộ trống.

Thảy mọi thứ tôi là hay từng là, hoặc thảy mọi thứ tôi nghĩ tôi là hay từng là, đều bất thần mất đi – trong mấy ý nghĩ này của tôi và trong cảnh tiêu tán bất chợt của ánh nắng nơi đám mây cao kia – không còn nắm được cái bí mật, cái sự thật, có lẽ cả cái vận hội vốn có thể ở trong chỗ này chỗ kia vốn lấy sự sống làm lớp đáy dưới cùng. Đây, tựa như ánh dương lảng lơ, là thảy những gì còn lại với tôi, và ở trên bao tấm mái cao cao muôn trạng thì ánh nắng thả đôi bàn tay của nó trượt đi mất, rồi những tấm mái ấy hợp thành một mảng làm hiện ra trước mắt cái bóng tối thầm kín phủ lên hết thảy mọi thứ.

Tựa như giọt nước lừng chừng, chao động, một vì sao nhỏ đầu tiên bừng sáng đằng tít xa.

Thursday, December 8, 2022

Fernando Pessoa - Sách của nỗi bất an - 57

 Mộng mị dạng tam giác

Ánh sáng trở nên một màu vàng lờ đờ hết sức, vàng lấm xen sắc xám. Khoảng cách giữa các thứ triển dài ra, và các thanh âm, được đặt cách nhau theo lối lạ, phát thành mấy tiếng li tán rời rẽ. Khi chúng được nghe thấy, chúng đột ngột ngừng, như thể bị cắt lìa đi. Nhiệt, có vẻ tăng lên, tuy nóng mà lại lạnh. Qua khe hở giữa hai tấm rèm ta thấy được cái tư thế đợi mong vô lối nơi cái cây hiện trước mắt. Màu xanh của nó trông thật khác. Bởi chưng vẻ khác ấy mà sự tịch lặng ùa vào cây. Trong bầu không khí các cánh hoa khép lại. Và chính ngay trong kết cấu không gian, các mặt phẳng đã di dịch và làm đứt gãy những mối nương chịu qua lại trong khoảng không giữa thanh âm, ánh sáng và màu sắc.

Đoàn Duy chuyển ngữ từ bản Anh văn của Margaret Jull Costa
(có tham khảo bản Anh văn của Richard Zenith)


Nguồn:

Pessoa, Fernando. (2018). The Book of Disquiet (bản dịch Anh văn của Margaret Jull Costa). Serpent's Tail.




Saturday, November 19, 2022

Fernando Pessoa - Sách của nỗi bất an - 433

Những câu chữ tôi chẳng bao giờ viết ra cho đặng và những cảnh sắc tôi chẳng bao giờ thuật tả cho xong: vậy thì đưa lời rõ rệt dường bao cho cái nết chây ì của tôi đây nó biết chúng, vậy thì thuật tả chúng rõ rệt dường bao trong tâm tưởng của tôi khi mà, lúc đương tựa người vào ghế, mối ràng của tôi với đời thật quá là miên viễn. Tôi chạm đục thành các câu vuông vẹn, từng chữ rõ rành rành; những vở kịch với bao tuyến truyện đan kết được dựng lên trong trí óc tôi, tôi cảm thấy được chuyển động của con chữ và của nhịp vần trong những giai phẩm thơ nơi từng từ một và lòng nhiệt luyến hết mực, tự hồ một nô lệ vô hình, cứ lẩn trong màn đêm mà dò theo sau tôi. Nhưng nếu tôi rời đi một bước khỏi cái ghế, nơi tôi để ườn ra đó mấy cảm giác gần tròn đầy thế này, rồi di chuyển đến bàn đặng mà ghi chúng ra, thì chữ tháo chạy, kịch tiêu tùng, còn ở mối liên kết sống còn vốn liên hợp bao tiếng rì rầm có nhịp có điệu thì còn gì ngoài một niềm hoài vọng miên viễn, một vệt nắng chiếu trên mấy ngọn núi tít xa, một ngọn gió rung rung cành lá bên rìa sa mạc, một mối thân thuộc mải miết không thành hình, một cơn sướng khoái vui vầy nơi kẻ khác, và người đàn bà kia ta linh tính sẽ ngoái nhìn lại mà rốt cục lại không hề có trên cõi đời này.

Thảy mọi kế hoạch hình dung được, tôi đều làm cả. Bản Ilíada mà tôi soạn nên mang lấy một cấu trúc hợp lẽ, chính là sự kết nối tự nhiên các epodos [vĩ khúc] mà Homero không sao đạt được. Mức toàn hảo nghiêm nhặt mà tôi thể hiện ở mấy vần thơ chưa nên con chữ sẽ khiến cho sự tinh xác của Virgil trông lơ mơ và khiến cho uy lực của Milton trông èo uột. Văn châm biếm phúng dụ của tôi vượt hẳn Swift ở lối dùng biểu tượng tinh xác nhằm thể hiện các chi tiết đặc thù có liên hệ nhau. Biết bao nhiêu Verlaine tôi đã hoá thành.

Và mỗi lần tôi đứng dậy khỏi ghế, nơi những thứ này có một tồn tại vượt quá những giấc mơ đơn thuần, tôi lãnh chịu một bi kịch nhân đôi khi biết rằng chúng vô giá trị mà đồng thời cũng biết rằng thực tế chúng đâu phải là những thứ hoàn toàn trong cơn mơ và biết rằng một vệt nào đó sót lại từ chúng cứ lởn vởn mãi nơi ngưỡng cửa trừu tượng dẫn đến suy tư của tôi về chúng và sự tồn tại của chúng.

Tôi là hạng thiên tài trong cơn mơ hơn là trong đời sống. Đó là bi kịch của tôi. Tôi là người chạy bỗng ngã xuống ngay trước vạch đích đến, một kẻ dẫn đầu cuộc đua cho tới lúc ấy.

Đoàn Duy chuyển ngữ từ bản Anh văn

Tuesday, October 18, 2022

Fernando Pesso - Sách của nỗi bất an - 438

Tự do là khả năng có được sự cô độc. Ngươi chỉ được tự do nếu ngươi có thể thoái hưu khỏi người đời và cảm thấy không cần cầu vọng đến họ để có tiền, để tương giao, để có ái tình, để có vinh quang, hoặc thậm chí vì lòng hiếu kì, bởi không điều nào trong mấy thứ này sẽ phấn phát trong tịch lặng và cô liêu. Nếu ngươi không sống một mình nổi, thì ngươi sinh ra đã là nô lệ. Ngươi có thể có cho mình cái tinh thần và tâm hồn bạt tục: ngươi là một nô lệ cao thượng hoặc một nông nô túc trí: ngươi không hề tự do. Nhưng đó đâu phải bi kịch của ngươi, bởi việc sinh ra như thế chính là bi kịch của Vận mệnh. Dù vậy phiền rủi ập đến ngươi, nếu đời nặng gánh đè ép ngươi lâm vào cảnh nô lệ. Phiền rủi ập đến ngươi nếu, khi được sinh ra tự do và có thể sống đời tự túc và cô độc, mà cảnh bần khốn lại buộc ép ngươi nhập bọn cùng kẻ khác. Bi kịch ấy là của riêng ngươi, và ngươi phải chịu cảnh nó đeo đẳng luôn luôn.

Sinh ra tự do là đức lớn nhất của con người, nó khiến cho kẻ ẩn sĩ hèn mọn trở nên cao quý hơn bậc quân vương và cả bậc thần minh, những hạng tự phụ do cậy nhờ đến uy lực của họ chứ không do lòng khinh thị đối với uy lực ấy.

Cái chết là sự giải thoát vì chết là không cần đến một ai khác. Kẻ nô bần khốn thấy mình bị đẩy thoát khỏi bao khoái lạc, khỏi bao thống khổ, khỏi cái đời liên tục mãi mà y từng ham muốn. Kẻ quân vương thấy mình thoát khỏi các vùng lãnh địa mà lòng bất nguyện. Những đàn bà đi rải ái tình khắp chốn giờ thấy mình thoát khỏi bao cuộc chinh phục mà họ hằng mến yêu. Những kẻ đắc thắng thấy mình thoát khỏi bao thắng lợi mà đời họ được định sẵn sẽ đạt được.

Cái chết tôn quý cái xác kì khôi khốn khổ và khoác lên đó thứ phục sức lạ lẫm. Ở đó y là kẻ tự do, dẫu cho tự do nào phải cái y cầu đến. Ở đó ta có kẻ không còn là nô lệ, dẫu cho y khóc lóc vì mất đi cảnh nô dịch của mình. Kẻ quân vương có thể nực cười ở tư cách thường dân và thứ phù hoa lớn nhất đời y là cái vương danh ấy nhưng cũng nhờ cái danh đó mà y dẫu sao vẫn là kẻ cao quý, giống như kẻ chết, dù y có thể trông gớm ghiếc dường bao, cũng vẫn cao quý, bởi cái chết đã giải phóng y.

Mỏi mệt, tôi đóng các cửa chớp lại ở ô cửa sổ, tôi tống thế giới ra ngoài và tôi được tự do một lúc. Ngày mai tôi sẽ trở lại làm kẻ nô lệ; nhưng giờ đây, một mình, không cần ai, sợ rằng giọng nói nào đó hoặc hiện diện nào đó sẽ quấy nhiễu tôi, tôi có cho riêng mình khoảng tự do bé nhỏ, thời khắc thăng hoa của tôi.

Trên cái ghế chỗ tôi ngồi, tôi quên đi cái đời này nó áp bách tôi quá thể. Nỗi đau duy nhất tôi cảm thấy là việc tôi đã từng đau.