Showing posts with label essay. Show all posts
Showing posts with label essay. Show all posts

Friday, January 2, 2026

Czesław Miłosz - Miłosz ABC – Sự mầu nhiệm

 Miłosz ABC – Sự mầu nhiệm (Miraculousness)

Là một con người và sống giữa con người là điều mầu nhiệm, dẫu cho ta biết được các việc gớm ghiếc và các tội ác mà người ta có khả năng thực hiện. Ngày ngày ta cùng nhau dựng nên một tổ ong khổng lồ có hàng triệu ô trong đó ta gửi vào mật ngọt của các tư tưởng, các khám phá, các phát minh, các công việc, các cuộc đời. Ngay cả lối ví von ấy cũng khó lòng chính xác; nó quá tĩnh tại, bởi lẽ công việc chung của ta, dù ta gọi nó bằng tên gì – xã hội, văn minh, polis trong Hi-lạp ngữ – đều luôn biến đổi và tự phô bày ra theo nhiều màu khác nhau, chịu chi phối của thời gian hoặc lịch sử. Lại nữa, đây cũng là một miêu tả chưa đủ đầy, do nó làm lơ điều quan trọng nhất hạng: rằng sự sáng tạo tập thể này được trao sức sống bởi nguồn nhiên liệu riêng tây, ẩn tàng chính là những khát vọng và quyết định cá nhân. Sự lạ lùng về địa vị khác thường của con người chủ yếu nằm ở chỗ họ là một sinh vật nực cười, đời đời thiếu chín chắn, vậy nên một bọn trẻ con có tâm tính rất ư thất thường, cười đây khóc đó, lại là minh hoạ rõ nhất cho sự thiếu trang nghiêm của con người. Một vài năm trôi đi, rồi bất thần chúng là người lớn, nắm quyền kiểm soát và được cho là sẵn sàng đưa ra các tuyên cáo về các việc công và thậm chí – ai mà mong chờ điều này kia chứ! – còn tự mình lãnh lấy bổn phận làm cha làm mẹ, mặc dù chuyện hẳn sẽ tốt đó nếu trước nhất họ có hẳn cho mình cả một cuộc đời để sửa soạn cho điều này.

Friday, December 26, 2025

Czesław Miłosz - Miłosz ABC – Tởm lợm


Czesław Miłosz

Tởm lợm (Disgust)

Chính Józef Czapski kể tôi nghe câu chuyện này xảy ra hồi Cách mạng Nga. Trong một tiệm ăn ở ga tàu hoả, có một người đàn ông đang ăn, một người trông biệt khác với khung cảnh xung quanh nhờ vào lối vận y phục và cử chỉ, và đây hiển nhiên là người thuộc giới trí thức tiền chiến. Ông ấy thu hút sự chú ý của một đám lưu manh cũng đương ngồi ở tiệm. Chúng qua bàn ông ấy rồi bắt đầu chế giễu ông ấy, sau cùng thì chúng còn nhổ vào xúp của ông ấy nữa. Người đàn ông này không làm gì để tự vệ và cũng không gắng sức xua đi bọn côn đồ. Chuyện này diễn ra cả một đỗi lâu. Đột nhiên ông ấy rút ra khỏi túi một khẩu súng lục, đưa nòng súng vào miệng rồi tự bắn mình. Hẳn nhiên cái ông ta gặp phải ở đây chính là giọt nước cuối cùng của một cái li vốn đã đầy tràn cảm giác gớm ghê trước cái xú lậu vốn đã dấy lên trong lòng bấy lâu. Rõ ràng ông ta là người mong manh, được nuôi dạy ở một chốn hoà nhã trước đây từng bảo vệ ông tránh được thực tại bị xử hung bạo vốn được các thành phần hạ lưu chấp nhận là lẽ bình thường. Sự hung bạo và bỉ lậu ấy đã vươn tới được bề mặt cùng với cuộc cách mạng và trở thành một phẩm chất của đời sống Xô-viết.

Năm 1939, cư dân Wilno và Lwów bất thần khám phá ra vẻ xám xịt và xú lậu của đời sống thế này. Tôi dám đánh liều mà đoán định rằng Stanislaw Ignacy Witkiewicz đã tự sát không hẳn do nỗi khiếp sợ mà do cơn tởm lợm trước cái điều ông biết sẽ xảy đến, cái mà ông đã miêu tả trong những chương sau cùng của quyển tiểu thuyết Pożegnanie jesieni (Giã từ mùa thu). George Orwell, người chưa từng đọc Witkiewicz, sau rốt đã tả đời sống thường nhật dưới sự cai trị của trật tự mới theo cùng một cách ở trong quyển 1984: xám xịt, nhơ nhuốc, chán chường, đủ các mùi bay ra từ mấy tiệm ăn rẻ tiền. Gọi cái loại mẫn cảm này là “mĩ cảm” thì chưa rốt ráo. Tốt hơn ta nên ngẫm xem trong cuộc nhân sinh thì điều chi không thể cam chịu được và ngẫm về cái sự quy tụ những điều này về một mối trong một số hoàn cảnh nhất định. Từ đó dẫn đến một kết luận rằng bảo vệ con người là một sự cần thiết, thậm chí, nếu cần, bằng cách gói họ lại trong một vỏ bọc của các ảo tưởng.

Wednesday, August 27, 2025

Arthur Koestler - Từ ngữ và vũ khí


Arthur Koestler

Từ ngữ và vũ khí

Bài nói chuyện khai mạc cuộc Triển lãm Sách Quốc tế tại European Forum, Alpbach, tháng Tám 1959.

 

Khi các vị mở một cuộc triển lãm sách, người ta kì vọng các vị sẽ nói mấy thứ êm ái về sức mạnh của ngôn từ, hay sức mạnh của tâm trí đối với vật chất. Tôi tin vào cả hai, và tôi tin rằng đa số các vị tin vào cả hai. Điều tôi muốn nêu ra là những kẻ cầm giữ vận mệnh các vị không tin vào điều nào trong số đó, mặc dù họ thường vờ rằng mình có tin.

Làm sao ta có thể giải thích được rằng, trong thời đại khi con người di chuyển ở vận tốc âm thanh, và âm thanh được truyền ở vận tốc ánh sáng, dầu vậy việc tự do lưu thông từ ngữ lại bị chặn đứng bởi một bức tường vô hình chạy quanh địa cầu; làm sao có thể có chuyện rằng trạng huống này giờ đây đã kéo dài bốn mươi năm, dài hơn quãng thời gian của một thế hệ?

Đi trách cứ phía bên kia sẽ không đưa ta đi đến đâu. Một bông hồng là một bông hồng, một con nhím là một con nhím, và một nhà nước toàn trị là một nhà nước toàn trị. Bản tính của con nhím đòi hỏi nó phải xù lông lên trước ngôn từ, và bản tính của nhà nước toàn trị đòi chuyện họ phải tự bảo vệ mình bằng một bức màn kiểm duyệt xù lông, những trạm chặn sóng vô tuyến, những biên giới khép đóng. Bản tính một nhà nước toàn trị còn là can đảm khi đối diện các mối đe doạ hữu hình và hèn nhát khi đối diện mối đe doạ duy nhất mà họ sợ: ngôn từ.

Các vị lãnh đạo của phương Tây không nhận ra được chỗ yếu nhược này bởi vì họ đặt nhiều tin cậy vào sức mạnh của vũ khí hơn là vào sức mạnh của từ ngữ. Nếu chuyện không phải vậy, bức tường lặng thinh vây quanh nửa thế giới này hẳn không tồn tại được, gần như bất khả xâm phạm, trong bốn mươi năm trời.

Đằng sau bức tường ấy, lần đầu tiên trong lịch sử, người ta đạt được một thế độc quyền Nhà nước hoàn toàn, không chỉ đối với sản xuất và phân phối thương phẩm, mà còn đối với sản xuất và phân phối ý tưởng, quan điểm và cảm xúc. Đây không phải lời cáo buộc, đây là lời phát biểu một thực tế. Nhưng thực tế còn là chuyện rằng sự cộng tồn bắt đầu ở chỗ sự hồ nghi liễu kết. Một sự hồ nghi chỉ có thể kết liễu được khi sự tự do lưu thông từ ngữ được khôi phục.

Xét theo bản chất các sự vật, tự do mậu dịch về từ ngữ là điều lợi ích cho ta và kháng chống lại lợi ích của phía bên kia  Do vậy ta phải khiến nó trở thành một phần của cuộc mà cả ngoại giao và sẵn sàng trả một cái giá để có được nó. Nghe chừng đáng ngạc nhiên, toan tính này chưa bao giờ được thực hiện. Các vị lãnh đạo của chúng ta mà cả các vấn đề về thủ tục, các vấn đề về vũ khí, các vấn đề về sự công nhận ngoại giao, nhưng các món vũ khí tâm lí chưa bao giờ được khiến trở nên một luận điểm mà cả nghiêm túc.

Sunday, March 9, 2025

Adam Zagajewski - Thuần phác và kinh nghiệm

Adam Zagajewski

Thuần phác và kinh nghiệm


Ta mang ơn William Blake về hai tập thơ trứ danh Songs of InnocenceSongs of Experience. Theo bản năng ta có khuynh hướng đọc theo thứ tự thời gian các bài thơ của Blake: đầu tiên là thuần phác, rồi sau đó, bù lại bằng đau khổ, kinh nghiệm. Thực sự cần phải thế? Liệu thuần phác có thực sự là thứ ta mất đi, như tuổi thơ, một lần và mãi mãi? Phải chăng không thể có chuyện kinh nghiệm cũng có thể bị mất đi? Kinh nghiệm là một dạng tri thức, và không thứ gì tan rã dễ như tri thức. Điều này cũng đúng với tri thức luân lí, tức là sự khôn ngoan. Một người sống sót từ trại tập trung, phẩm giá và cảm thức đạo đức còn nguyên vẹn, sau đó vẫn có thể thay đổi thành một kẻ vị kỉ tự phụ, có thể gây tổn thương một đứa trẻ. Nếu y nhận ra điều này và bắt đầu hối tiếc, y sẽ trở về trạng thái thuần phác.

Đó là nguyên do tại sao để kinh nghiệm ở sau cuối có thể không phải là điều đúng. Thuần phác theo sau kinh nghiệm, không phải lối ngược lại. Thuần phác phong phú hơn về kinh nghiệm, nhưng nghèo nàn hơn về lòng tự tin. Ta biết rất ít chuyện. Ta hiểu một điều gì đó trong một lúc rồi quên nó đi, hoặc ta phụ bạc cái thời khắc hiểu biết đó. Sau cùng tồn tại sự thuần phác, sự thuần phác cay đắng của vô tri, của tuyệt vọng, của lòng hiếu kì.

Saturday, March 8, 2025

Adam Zagajewski - Từ thế giới khác

Adam Zagajewski

Từ thế giới khác


Các bài thơ đến từ thế giới khác. Từ thế giới nào? Từ thế giới nơi đời sống nội tâm nó sống. Thế giới ấy ở đâu? Tôi không biết nổi. Các ý tưởng, các ẩn dụ và các tâm cảnh đến từ thế giới khác. Đôi khi chúng chất ngất niềm tin cao kì, lúc khác chúng toát ra sự khinh miệt hay mỉa mai. Chúng xuất hiện ở những thời điểm lạ lùng, không ai mời, không ai báo trước. Ấy thế khi chúng được kêu gọi, chúng lại muốn tránh đi không lộ diện.

Trên các con phố Paris, các diễn viên kịch câm hay xuất hiện làm trò tiêu khiển cho đám đông xem bằng cách bắt chước dáng đi của một người qua đường nghiêm trang nào đó đang hối hảo đến sở làm, mang cái cặp nặng trịch trên tay và những ý nghĩ nặng trịch trong đầu. Họ sẽ đi theo người đó, bắt chước đến từng chi tiết trong lối di chuyển, khuôn mặt, dáng đi đứng, vẻ nghiêm trang, vẻ hối hảo, vẻ miệt mài của người đó. Vào cái giây phút người qua đường đó nhận thấy rằng đi theo y là một con khỉ di động đương nhại y, cuộc vui kết thúc, mọi người cười phá lên, còn nạn nhân của trò đùa sẽ nhanh bước chân và lẩn vào một con đường nhỏ; người diễn viên ấy sau đó cúi chào và thu tiền.

Cuộc sống của tinh thần làm trò khỉ bắt chước thế giới nghiêm trang của chính trị, lịch sử và kinh tế theo cùng lối như vậy. Nó đi ngay đằng sau thế giới đó, từng bước một, lúc buồn lúc vui. Nó đi theo thế giới thực như một thần hộ mệnh tóc đỏ rồ điên rồi kêu la hoặc phá lên cười, chơi vĩ cầm hoặc đọc thơ ra tiếng. Khi thực tại cuối cùng nhận thấy nó không một mình, thì cái bóng ma kia cúi chào công chúng rồi mất dạng.

Các  bài thơ đến từ thế giới khác. Từ đâu? Tôi không biết.

Friday, March 7, 2025

Adam Zagajewski - Trong thư viện


Adam Zagajewski

Trong thư viện


Tôi đang ở trong một thư viện lớn. Tôi nhướng mắt lên khỏi một tập thư từ của Keats và quan sát những người kế cận, những độc giả khác. Họ chủ yếu là sinh viên, thuộc cả hai giới tính. (Vì tôi đã bốn mươi tuổi, nên đối với tôi họ trông như đám trẻ con; và tới phiên tôi thì tôi trong mắt họ là một ông già, một công dân lớn tuổi.)

Các cô đôi lúc lại mở hộp phấn sáp bỏ túi ra và nhìn mặt mũi mình trong gương, như thể xem coi liệu rằng sự tiếp xúc với văn hoá có làm nước da của họ tàn tạ đi không. Thư viện nằm ở Paris; nhiều người mang theo chai nhựa đựng đầy nước khoáng – Evian, hay Volvic, hay Vichy – nhãn sau cuối có những mối liên hệ lịch sử đối với dân ngoại quốc.

Các bạn sinh viên khom người trên mấy quyển sách và sao chép các trích dẫn dài, bất tận từ sách. Bên dưới cái ngòi bút bi, các tờ giấy trong mấy quyển vở lớn bắt đầu quăn lại một chút, như thể bị lửa táp phải. Quả tình là chúng ta sống trong kỉ nguyên máy tính, nhưng những sinh viên này vẫn dời chuyển các trích dẫn dài sang các trang giấy trong quyển vở, cứ như thể họ đương sống ở thời Trung-đại.

Wednesday, November 6, 2024

G. K. Chesterton - Lãng mạn trong mưa

G. K. Chesterton

Lãng mạn trong mưa


Các giai cấp trung lưu của nước Anh hiện đại hết sức mê cuồng việc giặt giũ, và thường rất nhiệt thành chống rượu. Do đó tôi không thể hiểu tại sao họ lại có chuyện họ công nhiên tỏ ra một điều thực bí ẩn là không ưa trời mưa. Mưa, điều gợi hứng và đầy vui thích ấy, chắc chắn kết hợp được những phẩm tính của hai lí tưởng này bằng một sự toàn bích lạ kì. Các nhà từ thiện háo hức lập nên nhà tắm công cộng ở mọi nơi. Mưa rõ ràng là một nhà tắm công cộng; nó gần như có thể được coi là hoạt động tắm chung nhiều người. Bề ngoài của những người xuất hiện tươi mới từ cơn thanh lọc tự nhiên này có lẽ không được đánh bóng hoặc không mang vẻ trang trọng; nhưng xét về chuyện đó, mấy ai có vẻ trang trọng khi ra khỏi nhà tắm. Nhưng kế lược của cơn mưa tự nó là một kế lược về hoạt động gột rửa rộng khắp. Nó hiện thực hoá giấc mộng của một chuyên viên vệ sinh bị loạn trí: nó cọ sạch bầu trời. Chổi và giẻ lau khổng lồ của nó dường như tới được phần nóc nhà đầy sao và những góc vũ trụ không-trăng-không-sao; nó là một hoạt động lau chùi mỗi độ xuân về và mang tầm vũ trụ.

Nếu một người Anh thực sự mê tắm nước lạnh, y không được càu nhàu chuyện khí hậu xứ Anh như một nhà tắm nước lạnh. Trong những ngày này ta thường xuyên được bảo rằng ta nên từ bỏ mấy thứ nho nhỏ của riêng ta và hoà mình hưởng lấy những thiết chế xã hội chung và một cơ chế xã hội chung. Tôi đề xuất mưa là một thiết chế theo lối Xã hội chủ nghĩa hoàn toàn. Nó mặc kệ cái kiểu thanh nhã phôi pha nó đến nay đã xui khiến từng quý ông đi tắm vòi sen ở chốn riêng tư. Nó là màn tắm vòi sen tốt lành hơn, bởi lẽ nó công cộng và hướng cộng đồng, và, hay nhất là bởi lẽ người khác sẽ làm cái việc giật dây.

Friday, June 2, 2023

Anne Carson - Bình về phiến đoạn 31 của Sappho

 

Chuyện gì xảy ra nếu tôi bắt đầu một bài luận bàn về những vấn đề tinh thần bằng việc dẫn ra một bài thơ thoạt đầu trông có vẻ không có tính tinh thần chút nào. Phiến đoạn 31 của Sappho như sau:

 

Tôi trông anh dường ngang bằng với thần minh, một người
nào đó đối diện bạn
ngồi và nghe sát
với tiếng nói ngọt

cùng tiếng cười yêu của bạn – ôi nó
làm con tim trong ngực tôi như cất cánh
bởi khi tôi nhìn anh, dẫu một thoáng, không lời nói nào
còn lại trong tôi

không: tiếng nói đứt đoạn và ngọn lửa
mỏng mảnh chạy riết dưới làn da
và trong đôi mắt không thấy gì và tiếng thùm thụp
vang đầy tai

và mồ hôi lạnh tóm lấy tôi và cơn run
siết cả người tôi, xanh tươi hơn cỏ
là tôi và chết đi – hay gần vậy
tôi trông tôi dường như thế.

Nhưng tất cả đều được khích, bởi ngay một người kiệt cùng...

Sunday, March 15, 2020

G. K. Chesterton - Về tính bỉ lậu

Hầu hết chúng ta đều tự nhủ liệu mình có thể tìm ra một định nghĩa thực thụ về tính Bỉ lậu. Bởi nhìn chung thật khó để huỷ hoại, hay thậm chí phản kháng, một thứ mà ta không thể định nghĩa. Tôi hồ nghi, thoạt đầu, rằng ta có thể phát hiện, trong trường hợp từ này, một điều khó khăn hiện có khi nhìn vào vô số những từ hiện đại. Chúng được sáng chế sau thời của học thuyết và định nghĩa. Chúng may lắm thì có được tính nghệ thuật và chứa chan cả bầu không khí. Chúng bắt đầu tượng trưng cho những ấn tượng mạnh vốn khá là thực, nhưng lại tượng trưng chúng như những biểu tượng, đôi khi có tính thơ, đôi khi tuỳ tiện và ngẫu nhiên. Và tôi khá thích thú chuyện rằng, trong trường hợp của tính Bỉ lậu và những kí hiệu khác bằng ngôn từ, ta có thể thấy rằng sự điều tra này đã kết thúc một cách quái lạ. Khi ta thực sự đặt thành từ ngữ cái thứ mà ta có ý nói qua từ đặc thù này, có lẽ ta thấy được rằng nó là một từ thiếu chính xác hết sức vốn dành cho nó.

Do đó tính Bỉ lậu (Vulgarity), như một thói xấu mà tất cả chúng ta đều có thể cảm thấy khá là sinh động (tôi có thể hình dung vậy) trong bao sự vụ và tập tục quanh ta, lại không thực sự có nối kết với từ vulgus cổ xưa; càng không nối kết với cụm profanum vulgus [đám đông thường tình]. Nhân quần có những thói xấu riêng mình, nhưng nó không nhất định là bỉ lậu. Khối nhân loại này có những nhược điểm riêng mình, nhưng ta không nhất định phải cảm thấy những nhược điểm đó như là hành vi bỉ lậu. Cái thứ đặc thù mà ta có ý nói, hoặc đúng ra là cái thứ tôi có ý nói, khi tôi dùng từ này, là một thứ gì đó tinh tế hơn nhiều và cố nhiên độc hại hơn nhiều. Nhưng tôi thực sự không biết bất kì từ nào khác dành cho nó. Tôi có thể dễ dàng đưa ví dụ về nó từ báo giới, nhưng việc này hẳn sẽ là một cách khá rẻ tiền và bất công cho việc lấp đầy mấy trang sách trong cuốn sách này. Do vậy, bằng sự hấp tấp đúng nghĩa trong việc thí nghiệm này, tôi sẽ thử nêu ra bản chất thực sự của cái thứ mà tôi gọi là tính Bỉ lậu; và tôi ước gì mình biết được một cái tên tệ hơn dành cho nó.

Saturday, September 28, 2019

Leigh Hunt - Cái chết của những đứa con nhỏ

Một nhà hiền triết Hi-lạp, khi được hỏi cớ sao ông lại khóc cho cái chết của con mình, bởi lẽ nỗi thống khổ ấy chỉ uổng công, đã đáp: “Tôi khóc chính vì duyên do đó.” Và câu trả lời trở thành lẽ minh trí của ông. Chỉ có hạng biện sĩ mới buông lời đoạn ngôn rằng chúng ta, với đôi mắt chứa cả nguồn châu lệ, không bao giờ cần nhượng lối cho chúng. Hẳn là thiếu minh trí khi không làm thế vào một số dịp nào đó. Nỗi thống khổ tháo mở chúng trong những lúc tâm trạng ấm nồng. Những cơn bùng lên đầu tiên có thể cay đắng và nặng lòng; nhưng mảnh đất mà tại đó chúng tuôn xuống hẳn sẽ xấu đi nếu thiếu chúng. Chúng làm tươi mát cơn nóng sốt của tâm hồn – nỗi sầu bi khô héo nó gây nứt nẻ dung nhan thành những luống cày, và khiến cho ta có thể bị “những cơn rung chuyển xác thịt” tệ hại nhất đời mình.

Thursday, December 20, 2018

Mario Vargas Llosa - Niềm khoái cảm trống không của bóng đá


Mấy năm trước, tôi nghe nói nhà nhân học Brasil Roberto da Matta có một bài giảng xuất sắc trong đó ông giải thích rằng tính phổ biến đại chúng của bóng đá – mà ngày nay vẫn còn mãnh liệt như nào giờ – biểu thị khát vọng thiên bẩm của con người ta về tính hợp pháp, tính bình đẳng và tự do.

Lập luận của ông khôn khéo và thú vị. Theo ông, công chúng xem môn bóng đá như là biểu tượng cho một xã hội kiểu mẫu, được cai quản bằng những luật lệ rõ rệt và giản đơn, là những thứ mà ai cũng hiểu và tuân theo và là những thứ, nếu chúng bị vi phạm, sẽ dẫn khởi ngay hình phạt cho bên phạm lỗi. Ngoại trừ việc là một vũ đài công bình, sân bóng đá là một không gian bình quyền vốn loại trừ tất cả sự ưu ái và đặc quyền. Tại đây, trên bãi cỏ được đánh dấu bằng những vạch kẻ trắng, mọi người đều được trọng thị bởi chính con người anh ta, bởi kĩ năng, lòng cống hiến, sự sáng tạo và tính hiệu quả của anh ta. Tên tuổi, tiền bạc và sức ảnh hưởng không hệ trọng gì khi ta xét đến chuyện ghi bàn và được nhận tràng vỗ tay hay tràng huýt sáo từ trên khán đài. Hơn nữa, cầu thủ bóng đá thực thi hình thức tự do duy nhất mà xã hội có thể cho phép các thành viên của mình nếu nó không tan rã: được làm bất kì việc gì họ thấy vừa ý miễn là việc đó không bị cấm đoán một cách tường minh bởi những điều lệ mọi người đã chấp nhận.

Sau cùng, đây là cái khuấy động nên những cơn nhiệt cuồng của đám đông, ở khắp thế giới, đổ xô vào sân, dõi theo bằng sự chú tâm hết mực những trận đấu trên truyền hình và tranh cãi đủ chuyện về những thần tượng bóng đá: lòng đố kị thầm kín, lòng hoài niệm trong vô thức về một thế giới—khác với cái thế giới họ sống vốn dĩ đầy sự bất công, bất bình đẳng và nhũng lạm, bị kìm kẹp trong tình cảnh vô pháp và bạo lực—thay vào đó sẽ mang đến một thế giới hài hoà, có pháp luật và bình đẳng.

Liệu cái lí thuyết tươi đẹp này là thật? Ước chi nó vậy, bởi lẽ rõ ràng lí thuyết này là thứ mê hoặc và không điều gì có thể tạo niềm lạc quan cho tương lai nhân loại hơn chuyện để những xúc cảm văn minh đó rúc mình trong những cõi bản năng thâm thiết nơi đám đông. Nhưng điều dễ xảy ra là rằng, như luôn luôn, thực tại thường vượt qua lí thuyết, chứng tỏ lí thuyết là thứ bất toàn. Bởi vì lí thuyết luôn duy lí, hợp luận lí, trí tuệ – thậm chí cả những lí thuyết đề xuất sự vô lí và sự điên rồ – và trong xã hội và trong hành vi cá nhân, phi lí trí, cái vô thức và tính tự phát thuần tuý sẽ luôn thủ một vai trò nhất định. Chúng là thứ vừa không thể tránh né vừa không thể đo lường.

Friday, January 26, 2018

Ursula K. Le Guin - Những thư viện của tôi

Bài nói chuyện vào năm 1997 ở buổi ăn mừng việc trùng tu Thư viện Hạt Multnomah của Portland.

 

Một thư viện là một tâm điểm, một chốn thiêng đối với một cộng đồng; và tính thiêng của nó nằm ở chỗ ai cũng vào được, ở chỗ nó công cộng. Đó là chốn của mọi người. Tôi nhớ đến một số thư viện, một cách sống động và đầy hân hoan, như là thư viện của tôi vậy – những thành tố làm nên đoạn đường đời đẹp nhất của tôi.

Thư viện đầu tiên tôi biết rõ là cái nằm ở Saint Helena, California, thuở ấy còn là một thị trấn nhỏ, an bình và đậm chất Ý. Thư viện đó là loại thư viện nhỏ thuộc quỹ Carnegie, trát vữa trắng, lạnh mát và im lìm vào những buổi chiều tháng Tám đổ lửa lúc mẹ tôi để anh trai tôi và tôi ở đó trong khi bà ghé qua tiệm Guigni và tiệm Tosetti. Karl và tôi đi khắp căn phòng cho trẻ em, tựa như những quả phi đạn tầm chữ vậy. Sau khi anh em chúng tôi đọc hết mọi thứ, bao gồm cả mười ba quyển truyện phiêu lưu của một cậu bé thám tử mập, thì chúng tôi phải được phép đi vào Phía Người lớn. Việc đó thật khó đối với mấy vị thủ thư. Họ cảm thấy như họ đang lôi bọn nhóc tì chúng tôi vào một căn phòng đầy dục tình, chết chóc và đám người lớn quái lạ như Heathcliff và nhà Joad; và thực tế là họ đúng quái lạ. Bọn tôi hàm ơn rất mực.

Monday, August 24, 2015

Tawada Yōko - Celan đọc tiếng Nhật

Có một số người cho rằng văn ‘hay’ thì thực sự không thể dịch được. Trước khi biết đọc tiếng Đức, tôi nhận thấy ý nghĩ này an ủi làm sao vì tôi hoàn toàn không thể cảm nhận được văn học Đức, đặc biệt là văn học giai đoạn hậu chiến. Tôi đã nghĩ tôi nên học ngay tiếng Đức và đọc những tác phẩm này trong bản gốc và rồi vấn đề của tôi với văn học Đức có thể sẽ tự tan biến.

Dù vậy, có những ngoại lệ, như những bài thơ của Paul Celan, mà tôi phát hiện thấy hoàn toàn lôi cuốn ngay cả trong bản dịch tiếng Nhật. Hết lúc này tới lúc khác nảy ra trong tôi ý thắc mắc có thể nào những bài thơ của ông lại không kém chất lượng bởi chúng thuộc loại khả dịch. Khi thắc mắc về ‘tính khả dịch’ của một tác phẩm, tôi không định nói rằng một bản sao hoàn hảo của một bài thơ có thể tồn tại trong một ngoại ngữ hay không, mà là bản dịch của nó có thể tự mình là một tác phẩm văn học hay không. Bên cạnh đó, sẽ là thiếu sót nếu tôi chỉ nói rằng những bài thơ của Celan là khả dịch. Đúng hơn, tôi có cảm giác rằng chúng đang chăm chú nhìn vào tiếng Nhật.

Sau khi tôi học đọc được văn học Đức trong nguyên gốc, tôi nhận ra rằng ấn tượng của mình chưa từng hão huyền. Tôi đã bị chiếm ngự còn hơn trước đó bởi câu hỏi vì sao những bài thơ của Celan có thể vươn tới một thế giới khác vốn nằm ngoài tiếng Đức. Đó hẳn phải có một vực sâu giữa những ngôn ngữ mà tất cả từ ngữ sa vào.

Monday, June 17, 2013

Tanizaki Jun'ichirō – Chuyện nhà vệ sinh Nhật-bản

Cứ mỗi lần tôi được người ta cho xem một nhà vệ sinh cũ kĩ, được chiếu sáng lờ mờ, và phải nói thêm, sạch đến mức hoàn hảo, ở một ngôi đền tại Nara hoặc Kyoto, tôi lại ấn tượng với những phẩm tính nổi bật của kiến trúc Nhật-bản. Phòng khách có thể có những nét duyên dáng của mình, nhưng nhà vệ sinh Nhật thực sự là nơi an tịnh tinh thần. Nó luôn nằm ở vị trí tách biệt với khu nhà chính, ở cuối hành lang, trong một bụi cây thơm ngát mùi lá và rêu. Không có từ nào có thể diễn tả được cảm giác đó khi ta ngồi trong vùng sáng lờ mờ, đắm mình trong ánh sáng yếu ớt được phản chiếu từ shoji [cánh cửa], chìm trong trầm tư mặc tưởng hay nhìn chăm chăm ra khu vườn. Tiểu thuyết gia Natsume Soseki xem những chuyến đi vào buổi sáng đến nhà vệ sinh là một lạc thú tuyệt vời, “một khoái cảm sinh lí” như cách ông gọi. Và hẳn nhiên không thể có nơi nào tận hưởng lạc thú này tốt hơn một nhà vệ sinh Nhật-bản mà tại đó, bao quanh là những bức tường trầm lặng và tấm gỗ có những lớp vân thanh mảnh, ta nhìn ra bầu trời xanh lam và những chiếc lá xanh lục.

Như tôi đã nói, có những điều kiện tiên quyết nhất định: mức độ lờ mờ, sự sạch sẽ tuyệt đối, và yên tĩnh hoàn toàn đến mức ta có thể nghe tiếng muỗi vo ve. Từ một nhà vệ sinh như thế tôi thích việc lắng nghe tiếng mưa rơi dịu dàng, đặc biệt nếu nó là nhà vệ sinh của thời Kanto, với những cửa sổ dài, hẹp nằm ngang mặt sàn; ở đó với cảm giác thân mật như thế ta có thể lắng nghe những giọt mưa rơi từ mấy chiếc lá và những ngọn cây, thấm vào đất khi chúng chảy qua bệ của cái lồng đèn bằng đá và làm sạch đám rêu xung quanh những phiến đá lót đường. Và nhà vệ sinh là nơi hoàn hảo để lắng nghe tiếng rúc rích của bọn côn trùng hay tiếng chim hót, để nhìn lên mặt trăng, hay để hưởng lấy bất kì khoảnh khắc xúc động nào trong số những khoảnh khắc đánh dấu thời điểm giao mùa. Tôi hồ nghi đây là nơi các thi sĩ haiku suốt bao thế hệ đã bắt gặp được vô vàn ý tưởng cho mình. Quả thực, theo lẽ nào đó ta có thể khẳng định rằng trong tất thảy các yếu tố kiến trúc Nhật-bản, nhà vệ sinh là nơi mang tính thẩm mĩ nhất. Tổ tiên của chúng tôi, vốn làm thơ về mọi thứ trong đời, đã chuyển hoá cái mà đúng ra hẳn là căn phòng bẩn thỉu nhất trong nhà để trở thành nơi tao nhã hơn bất kì chỗ nào khác, ngập tràn những mối liên hệ trìu mến với vẻ đẹp tự nhiên. So với những người Tây phương, vốn xem nhà vệ sinh là nơi hoàn toàn dơ bẩn và tránh cả việc đề cập nó trong những cuộc đàm luận trang trọng, chúng tôi hiểu biết hơn nhiều và chắc chắn có được phẩm vị tinh tế hơn. Tôi phải thừa nhận nhà vệ sinh Nhật có chút bất tiện khi muốn đi vào đó lúc nửa đêm, nó được thiết lập tách khỏi khu nhà chính như nào giờ, và vào mùa đông thì ta luôn có nguy cơ bị nhiễm lạnh. Song, như thi sĩ Saito Ryoku đã nói “phong nhã là thứ giá lạnh”. Tốt hơn là nơi đó nên lạnh lẽo như ở ngoài trời; hệ thống sưởi hơi nước của nhà vệ sinh kiểu Tây phương trong khách sạn là thứ khó chịu nhất.

Wednesday, June 6, 2012

Orhan Pamuk - Chín ghi chú về bìa sách

Nếu một tiểu thuyết gia có thể viết xong cuốn sách mà không mơ mộng đến cái bìa, thì ông ta là một người khôn ngoan, đầy hiểu biết, và là người hoàn toàn trưởng thành, nhưng ông ta cũng đã đánh mất đi cái nét thơ ngây đã từng giúp ông trở thành một nhà văn ngay từ thuở ban đầu. 

Chúng ta không thể hồi tưởng lại những cuốn sách mình yêu quí nhất mà bỏ qua cái bìa của chúng.

Hết thảy chúng ta đều thích được thấy cái cảnh sẽ có thêm nhiều độc giả mua sách vì cái bìa, và cũng thích được thấy cảnh các nhà phê bình khinh bỉ những cuốn sách vốn chỉ được viết dành cho những dạng độc giả như thế.

Việc mô tả tỉ mỉ những nhân vật chính ngay trên bìa sách không chỉ sỉ nhục trí tưởng tượng của nhà văn, mà còn sỉ nhục cả trí tưởng tượng của độc giả.

 Khi người thiết kế bìa quyết định rằng cuốn sách với nhan đề Đỏ và đen xứng đáng có tấm áo khoác đen và đỏ, hoặc khi họ trang trí cho những cuốn sách có nhan đề Ngôi nhà xanh hay Toà lâu đài bằng hình ảnh minh hoạ về những ngôi nhà xanh và những toà lâu đài, thì họ không làm cho ta nghĩ là họ trung thành với văn bản, mà chỉ khiến ta tự hỏi rằng liệu họ có đọc qua cuốn sách chưa.

Nếu ta thoáng thấy một cái bìa của một cuốn sách ta đọc đã lâu, thì ngay lập tức nó sẽ mang ta trở về lại ngày xa xưa đó, lúc mà ta cuộn mình lại trong một góc nhà với cuốn sách trên tay, và đang dấn bước vào cõi sống đang ẩn tàng trong đó.

Cái bìa sách tốt có chức năng như một cái ống dẫn, mang ta ra khỏi cõi trần tục mình đang sống, và đưa ta đến với cõi sống trong cuốn sách.

Tiệm sách có được nét quyến rũ không chỉ nhờ vào những cuốn sách trong đó mà còn nhờ vào sự đa dạng của các bìa sách.

Nhan đề cuốn sách giống như tên người vậy: Chúng giúp ta phân biệt một cuốn sách nào đó từ hàng triệu cuốn khác giống vậy. Còn bìa sách thì tựa như gương mặt người: Chúng gợi ta nhớ về một niềm vui nào đó mà ta từng trải qua hoặc chúng hứa hẹn cho ta một cõi sống an lạc mà ta chưa hề biết tới. Đó là lí do tại sao chúng ta nhìn chăm chú vào những bìa sách và mê đắm trong đó như thể đang nhìn vào những gương mặt thân thương.

Wednesday, June 22, 2011

Tawada Yōko - Châu Âu là Tây phương?

 “Truyền thống” và “hiện đại”: hai từ ưa thích của người dẫn chương trình ở trong một cái hộp thường được biết đến với cái tên “truyền hình”.

 

Tôi có vài cái hộp trong căn hộ của mình. Một cái gọi là tủ lạnh. Nó kêu um ủm suốt ngày đêm nhưng chẳng nói gì cả. Một cái hộp khác gọi là máy giặt và nó thường phát rồ. Tuy thế, cái thứ ngôn ngữ phát ra từ máy truyền hình thì còn điên hơn nhiều.

Tên của một trong những nhà sản xuất đồ gia dụng lớn nhất Nhật-bản là “National”. Một cái tên lạ đối với một công ti, phải không? Thế mà cái tên đó có lẽ rất phù hợp bởi vì nó là hiện thân hoàn hảo cho tâm tình quốc gia nảy nở trong thập niên 1920, thời điểm công ti được thành lập. Sau đó nó đi đến chỗ biểu hiện niềm tự hào về sản xuất công nghiệp, một lối tự hào thay thế cho cái lòng tự hào nát tan ở quốc gia này sau Thế chiến II. Kết thúc chiến tranh không làm cho căn cước dân tộc bị tan rã. Nhân danh của cả quốc gia, mọi người bị thúc ép phải tái thiết đất nước và tạo ra sự sung túc. Sau đó, quốc gia đến chỗ có một nghĩa khác nữa; nó trở thành một cộng đồng chịu trách nhiệm cho lịch sử. Khi tội ác, tức cuộc Thế chiến, được tiến hành nhân danh một quốc gia, thì quốc gia đó sau chiến tranh chịu trách nhiệm cho cuộc chiến đó, phải tiếp tục tồn tại, cho dù sự tự do thoát khỏi khái niệm về quốc gia là điều ao ước của mọi người muôn nơi.

Sunday, December 5, 2010

Jorge Luis Borges - Bức tường và sách

 He, whose long wall the wand’ring Tartar bounds...
Dunciad III, 76


Cách đây mấy ngày tôi đọc được rằng người đàn ông ra lệnh cho việc xây dựng Bức tường thành Trung-hoa dài gần như vô hạn chính là vị Hoàng-đế đầu tiên, Thuỷ Hoàng-đế, cũng ông này ra chiếu chỉ đốt toàn bộ sách vở được viết trước thời ông. Hai nhiệm vụ to lớn này – năm sáu trăm lí (legua) tường đá để ngăn chặn bọn rợ, và việc huỷ bỏ lịch sử, tức là quá khứ, một cách triệt để - là công việc của cùng một người, và, ở một ý nghĩa nào đó, thì đó là đặc tính của ông ta, và việc không thể cắt nghĩa được là chuyện đó đã thoả mãn tôi đồng thời làm tôi phiền muộn. Điều tra nguyên do cho cảm xúc đó chính là mục đích của bài viết này.

Về mặt lịch sử, chẳng có gì bí ẩn về hai cách thức này. Vào cùng thời những cuộc chiến tranh của Hannibal, Thuỷ Hoàng-đế, vị vua nhà Tần, đã chinh phục cả sáu vương quốc và đặt dấu chấm hết cho thể chế phong kiến; ông ta xây tường bởi vì tường chính là sự phòng vệ; ông đốt sách bởi vì địch thủ của ông có thể viện dẫn sách vở để ca ngợi các tiên đế. Đốt sách và dựng thành là những công việc thường thấy của các ông hoàng; thứ độc đáo duy nhất về Thuỷ Hoàng-đế là cái mức độ mà ông tiến hành. Ít nhất thì đó là ý kiến của các nhà Hán học, nhưng tôi tin rằng cả hai hành động kia là một thứ gì đó còn hơn cả sự phóng đại và cường điệu của những thiên hướng bé mọn. Rào quanh một khu đất trồng trái cây hoặc một khu vườn là điều thường thấy, nhưng rào cả một đế quốc thì không vậy. Đó cũng không phải là vấn đề nhỏ khi bắt buộc cả một dân tộc có truyền thống nhất hạng phải từ bỏ kí ức của quá khứ, dù là thần thoại hay có thực. Niêu đại của Trung-hoa đã được ba ngàn năm (và trong đó bao gồm các vị như Hoàng Đế và Trang tử và Khổng tử và Lão tử) khi Thuỷ Hoàng-đế lệnh rằng lịch sử sẽ bắt đầu với ông.

Wednesday, November 24, 2010

Umberto Eco - Làm thế nào để đi du lịch cùng một con cá hồi


Umberto Eco

Làm thế nào để đi du lịch cùng một con cá hồi

Theo như báo chí thì có hai vấn đề gây phiền toái thế giới hiện đại: cuộc xâm lăng của máy tính, và sự bành trướng gây hoang mang của Thế giới thứ ba. Báo chí đã đúng, và tôi biết thế.

Cuộc hành trình của tôi diễn ra chớp nhoáng: một ngày ở Stockholm và ba ngày ở Luân-đôn. Tại Stockholm, tranh thủ một giờ được rảnh, tôi đi mua một con cá hồi hun khói, loại lớn, giá rẻ bèo. Con cá được bọc cẩn thận trong một bì nhựa dẻo, nhưng người ta bảo tôi rằng, nếu tôi di chuyển đây đó, thì người ta khuyên tôi là nên giữ nó trong tủ lạnh. Ha. Thử xem nào.

Hên là, tại Luân-đôn, nhà xuất bản đã đặt phòng cho tôi tại một khách sạn hạng sang: loại phòng có trang bị một tủ minibar. Nhưng khi tới khách sạn, tôi có cảm tưởng mình vừa bước vào một toà công sứ nước ngoài ở Bắc-kinh vào thời kì nổi dậy của Nghĩa-hoà-đoàn: toàn bộ các gia đình đều trú ở ngoài tiền sảnh, du khách quấn mền ngủ giữa mớ hành lí của họ. Tôi hỏi mấy người nhân viên, toàn bộ họ là người Ấn-độ ngoại trừ một số là người Malay, và họ bảo rằng chỉ mới ngày trước, trong cái khách sạn tráng lệ này, người ta đã lắp đặt một hệ thống máy tính và, trước khi mấy lỗi quái lạ được loại bỏ, nó bị hỏng trong hai giờ đồng hồ. Chẳng có cách nào biết được phòng nào có người còn phòng nào thì trống. Tôi phải chờ đợi thôi.

Cho đến chiều thì hệ thống được phục hồi, và tôi xoay xở được vào phòng mình. Thấy lo cho con cá hồi, tôi bỏ nó ra khỏi cái va-li rồi tìm cái tủ minibar.