Thursday, July 23, 2026

Phỏng vấn Zbigniew Herbert: Đàm thoại về chuyện viết thơ


Phỏng vấn Zbigniew Herbert: Đàm thoại về chuyện viết thơ 

A. Tôi sẽ bắt đầu bằng một vấn đề có thể trông tầm thường. Tôi có chú ý thấy độc giả ở những buổi đọc thơ thường hỏi về sự khởi đầu của người viết. Họ đơn giản muốn biết cách mà anh trở thành một người viết. Anh từng được hỏi mấy câu như vậy chưa?

B. Chắc chắn là đã từng. Tôi nghĩ anh cũng nêu ra khéo đó, do tôi cũng nghĩ rằng những câu hỏi như thế luôn luôn hoặc gần như luôn luôn được định đặt trong cơn khát khao muốn khám phá một bí quyết, một bùa phép huyền bí, một công thức giúp cho việc thành  những ai mộng về sự nghiệp viết có thể đạt được sự nghiệp ấy.

A. Vậy bí quyết là gì?

B. Tôi đâu biết, đôi khi tôi thấy dường như chẳng có bí quyết gì. Đừng hiểu lầm tôi: tôi không thích hạng được gọi là người viết từ cảm hứng, những người vờ với công chúng rằng họ dịch di trong những cõi mà độc giả tầm trung không tiếp cận nổi. Tôi cũng không thích những người nảy ra hàng bao cuộc phiêu lưu quái lạ trong đời họ, những cuộc phiêu lưu mà họ cho là góp phần vào sự trở thành nghệ sĩ nơi họ. Dạng đặc tả bản thân thành hạng phi phàm là theo trường phái Lãng mạn và hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

A. Tôi không bỏ cuộc dễ dàng đâu. Chắc chắn là khó phủ nhận chuyện rằng một số khía cạnh trong truyện đời người viết, kinh nghiệm chẳng hạn, có thể phát khởi khả năng viết.

B. Tôi dám cả tiếng nói rằng mọi người hoặc hầu hết mọi người đều có khả năng viết, y như việc họ có khả năng vẽ hoặc soạn những khúc nhạc giản đơn. Nếu có khác biệt chi, đó là chuyện thi sĩ sẽ viết cho thi sĩ, nhà soạn nhạc thì chỉ có đồng nghiệp chuyên môn của họ mới hiểu rõ, và hoạ sĩ chỉ vẽ cho hoạ sĩ khác. May thay, chuyện này không phải thế. Khán giả hoàn hảo cũng là một hoạ sĩ, hơn nữa lại thuộc hàng hiếm hoi. Đó là một người có thể tái tạo bản aria, màu sắc của một bức hoạ, một bài thơ, trong chính mình và cùng sự chuẩn xác giống vậy, sự hân hoan vô tư giống vậy, như thể y là tác giả.

A. OK. Cho là anh đúng đi. Có lẽ một độc giả – hoặc thính giả hay khán giả – là một tác giả tiềm năng, tức là nói rằng, họ có thể tạo ra các thứ, nhưng lại lơ là quên đi [việc tạo ra đó], có lẽ do thiếu dũng khí. Nhưng anh có dũng khí. Tôi muốn biết khi nào và tại sao.

B. Được thôi, tôi sẽ nói vầy: có lẽ nó thực sự quan trọng. Tôi bắt đầu viết trong chiến tranh. Trong quyển này, bài thơ ‘Two Drops (Hai giọt nước)’ không phải bài đầu tiên tôi viết, nếu tôi nhớ đúng, nhưng đó là bài đầu tiên tôi có thể kí tên ưng thuận nhiều năm sau đó. Thuở ấy tôi là một thiếu niên. Cuộc chiến đang diễn ra. Suốt một trong những vụ ném bom dữ dội, lúc ấy tôi đang chạy đến chỗ trú ẩn và ở kia trên những bậc thang tôi thoáng thấy – lúc đó tôi đang bị nỗi sợ lôi đi – một cặp trẻ tuổi đang hôn nhau. Cảnh đó thực tình phi phàm trong tình huống ấy.

A. Sao lại phi phàm?

B. Bởi trong những tình huống như cái tôi vừa tả, nỗi kinh hãi trùm lấy mọi người hoàn toàn, khiến họ quên đi những người họ yêu. Bản năng sinh tồn, được đánh thức trong những thời khắc hiểm nguy tột cùng, tràn ngập lòng ta một cơn sợ ghê khiếp, một ý lực duy nhất nhằm cứu mỗi bản thân ta mà thôi. Trong khi hai người kia chống lại tình cảnh tàn khốc cuồng bạo quanh họ bằng làn thế lực mỏng mảnh của ái tình.

A. Và anh quyết định miêu tả sự đó?

B. Không hẳn miêu tả mà là biểu hiện. Anh thấy đó, tôi không có từ ngữ truyền tải lòng phản kháng và chống đối. Lẽ ra tôi có thể viết mấy chữ như: “A, bọn người đáng tởm chúng bây; chúng bây đang giết bao người vô tội, lũ khốn kiếp; cứ chờ đó, chúng bây sẽ bị trừng phạt vì gây ra chuyện này.” Tôi không nói vậy, bởi tôi muốn cho cái tình huống kì dị này một kích thước rộng hơn, hay đúng hơn, muốn cho thấy cái nhìn nhân bản phổ quát, sâu xa hơn của tình huống ấy.

A. Nhưng chẳng phải làm thế sẽ khiến thi ca thành mọt thứ lạnh lẽo, trừu tượng, bị cắt rời khỏi đời sống? Giải thích của anh về nguồn gốc, nguồn cơn cho bài thơ ‘Two Drops’ đã làm rõ nhiều điều đối với tôi, nhưng còn độc giả không biết đến giải thích này thì sao?

B. Không thể, hay thậm chí không cần thiết, giải thích những bài thơ bằng cách miêu tả thời khắc gây cảm hứng làm nên chúng. Đó là nguyên do đầu tiên cho việc tôi không muốn nói về đời mình. Một tác phẩm văn chương, tựa như bao tác phẩm nghệ thuật, cần phải độc lập, có chỗ đứng riêng, tách biệt khỏi những kinh nghiệm vốn là thứ vời gọi ra tác phẩm đó từ cái vùng âm ám chứa đựng bao hình ảnh, cảm xúc, trực giác. Nó phải được tóm bắt lấy trong ngôn ngữ theo một phương cách hướng đến trí tưởng tượng. Tôi vừa viết một bài luận văn về văn hoá Minos, vốn được khám phá ra ở xứ Kreta [Krētē] cách đây bảy mươi năm và kể từ đó đã gây phiền muộn cho giới học giả. Người khám phá ra nền văn hoá ấy, Evans, cùng những nhà khảo cổ khác nữa, đã chuyển lại cho ta những phế tích của những toà cung điện nguy nga, những bức bích hoạ, những món đồ gốm tuyệt diệu từ cách đây ba nghìn năm; khi nhìn vào những giai phẩm ấy, ta mang lòng ngưỡng mộ và kinh thán. Nhưng ta biết quá ít về những cuộc đời của người Minos và cách thức tâm trí họ hoạt động, bởi văn tự của họ (cái được gọi là chữ linearne B và chữ tượng hình) vẫn chưa được giải mã. Theo đó tôi muốn nói rằng chỉ bằng ngôn ngữ thì con người mới được biểu hiện ra đủ đầy – những cơn muộn phiền và những niềm hân hoan, những giá trị mà y ưng thuận, những niềm tin của y.

A. Dù vậy tôi muốn quay lại câu hỏi của mình. Điều ngăn trở độc giả trong việc đọc thi ca đương đại, đối với tôi, dường như là ở cái hơi lạnh lẽo, trừu tượng và có lối trí thức quá đà. Anh chưa từng bị mấy lời chê trách kiểu đó hướng vào mình à?

B. Anh đang động vào một vấn đề rất trọng yếu và tại đây ta phải dọn dẹp bớt mấy ngộ nhận cứ mọc lên xung quanh thi ca đương đại. Tôi sẽ không nói về toàn bộ thi ca đương dại, vì không thể nào nói vậy, nền thi ca này được tạo nên từ nhiều xu hướng và phần nhiều trong số ấy tôi không mang lòng đồng cảm. Nhưng tôi sẽ nói về cách mình thấy những thứ này. Tuy vậy, để tôi xoay chuyển vai trò chúng ta lại một lúc và hỏi anh một câu. Anh nghĩ diều gì quan trọng nhất đối với một tác giả?

Wednesday, July 15, 2026

Yanabu Akira - ‘Liberty-Freedom’: Sự phản kháng của Yanagita Kunio

 Yanabu Akira

Liberty-Freedom: Sự phản kháng của Yanagita Kunio

 

* “Jiyū: Yanagita Kunio no hanpatsu” 自由:柳田國男の反発, trong Yanabu Akira 柳父章, Honyakugo seiritsu 翻訳語成立事情 (Conditions surrounding the formation of translated terms = Kiến lập tình huống nơi những từ ngữ được phiên dịch) (Tokyo: Iwanami shinsho, 1994), tr. 173–91.

1. Jiyū 自由 [tự do], chữ nhầm chữ

Yanagita Kunio 柳田國男 (1875–1962) thuật lại hồi ức sau:

Xin cử ra một ví dụ, hồi lên năm lên sáu, tôi gặp phải cụm “jiyū minken自由民權 (tự do dân quyền), ngay khi từ này tràn vào [Nhật] như cơn sóng. Nhà tôi ở làng, ngày nọ một thanh niên cờ bạc say bí tỉ và ngủ gục ngay trên ngưỡng cửa nhà chúng tôi, tịnh không động đậy. Tôi tìm cách nhờ người kéo hắn đi, rồi người này người kia nắm lấy thân hắn và tìm cách nhấc hắn đi, lúc ấy hắn la lên: “Quyền tự do của tôi” ( jiyū no ken da 自由の權だ). Tôi nhớ rõ là hắn hét lên. Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức. Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu. Trải một thời gian lâu sau đó, tôi không thể tự mình rũ bỏ lòng phản cảm đối với Itagakia Taisuke (1837–1919), thủ lĩnh của Phong trào Tự do Dân quyền thời đại đó.[1] (一つの例を舉げますと、私は五つ六つの頃に、丁度日本に「自由民權」といふ言葉が潮の如くに流れ込んで来る時代に遭遇致しまして、私の家は村でありますが、或日一人の若い博徒が泥醉して自分の家の門口に寢てしまつて動かぬ、それを立退かせようとして、内からも外からも色々な人が手を掛けて起さうとしますと、その人が「自由の權だ」といつて怒鳴つたことを記憶して居ります。これが自由といふ言葉に対する私達の概念を頗る混亂させまして、何だか非常に厭な困つたもののやうに感じ、久しい間その時代の自由民權運動の首領であつた板垣退助さんに対する反感のやうなものが拔け切らずに 居ります。)

Có hai thứ tôi muốn lưu ý trong đoạn trích dẫn này. Thứ nhất là sự tình rằng, mặc dù say xỉn và ngủ thiếp đi ở ngưỡng cửa nhà người khác, tay thanh niên cờ bạc ấy vẫn thốt rõ lên lời rằng: “Quyền tự do của tôi”. Tôi đặc biệt lưu tâm đến cách từ jiyū được dùng trong trường hợp này. Đây là một thuật ngữ được lưu hành thời điểm đó, và bấy giờ người ta dùng nó ở nhiều tình huống khác nhau. Cũng có nhiều trường hợp mà từ này được dùng không phù hợp, như tôi sẽ giới thiệu bên dưới. Nghĩa của nó trong trường hợp như vậy không được người ta hiểu rõ. Vậy nên, ta có một từ có nghĩa không được hiểu rõ, dầu vậy người ta sẵn lòng dùng nó và nó trở nên thịnh hành. Như tôi đã lưu ý mấy lần, đây thường là một trong những kết quả đặc biệt của các dịch ngữ.

Luận điểm còn lại của tôi phát xuất từ góc nhìn của Yanagita Kunio về sự cố này. “Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức”, ông viết như vậy. “Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu”. Dầu đây là một trải nghiệm thời ấu thơ, song “trải một thời gian lâu sau đó” sự này vẫn tiếp diễn. Khi nghĩa của một từ được nhiều người hiểu được, thì nhìn nhận của người ta về nó như một từ tốt hay xấu là điều trở nên hệ trọng cực kì. Trong trường hợp đây, từ này được liên hệ với một hành vi quyền hoạnh của tay thanh niên vô danh nọ. Song, đấy chưa phải tất cả, bởi lẽ bản thân từ jiyū vốn đã mang một nghĩa tiêu cực.

Tuesday, July 14, 2026

Emily Dickinson - 487/474 - [Mi yêu Chúa – mi không thấy đặng]

 (Johnson 487/Franklin 474) 

Mi yêu Chúa – mi không thấy đặng –
Mi viết cho Người – mọi ngày –
Một mẩu thư – lúc mi tỉnh thức –
Rồi sau đó trong Ngày.

Một bức Thư Dài dặc – mi nhớ dường bao –
Và vui thích dường nào khi thấy –
Nhưng rồi Nhà Người – cách chỉ một Bước –
Và Nhà Ta – chốn Thiên đàng – Mi sẽ thấy.

— Emily Dickinson

Sunday, July 5, 2026

Emily Dickinson - 675/772 - [Dầu tinh chất được vắt]

(Johnson 675 / Franklin 772)

Dầu tinh chất – được vắt –
Thức tinh du từ Hoa hồng
Nào được ép ra do Mặt trời – mà thôi –
Nó là món quà của đinh ốc –

Hoa hồng Thông thường – mục rữa –
Nhưng thứ này – ở tấm áo lót Quý bà
Làm nên mùa Hạ – khi Quý bà nằm giữa
Đám lá hương thảo ngát toả khôn nguôi –

— Emily Dickinson

Saturday, June 27, 2026

Umberto Saba - Goal

Năm bài thơ dành cho trận bóng ấy (5): Goal 

Thủ môn sụp xuống sau lần cứu đỡ
hoài công vừa qua, mặt úp xuống sân,
đặng không phải thấy cảnh tượng buốt lòng.
Đồng đội khuỵu bên, lời thốt tay đưa
gắng sức vực anh đứng thẳng dậy,
bỗng thấy anh giàn giụa nước mắt.

Đám đông – một khối cuồng mê – tuồng như
tràn vào sân. Quanh kẻ ghi bàn ấy
lao tới quàng cổ là những người anh em.
Nào có mấy thời khắc hoàn mĩ dường này,
dưới ánh dương, lại được trao cho
những kẻ đương đắm trong hận và yêu.

Thủ môn đàng kia lưu lại kề bên
mành lưới chưa rung. Nhưng hồn thời không –
chỉ mỗi tấm thân tại đó một mình.
Cơn sướng khoái lộn trên không một vòng,
rồi gửi gắm đi mấy nụ hôn xa.
Cuộc vui này – anh nói – tôi cũng dự phần.

— Umberto Saba

Saturday, May 23, 2026

Bắc Đảo - Đến nơi

Đến nơi

thuở đó tôi hãy còn tuổi nhỏ
nhọc mệt giống như một chiếc bình
đợi chờ cơn nộ dâng lên

à cơn nộ của tháng năm

ánh lửa hổ thẹn a đêm đen còn mãi
ở trong sách ra sinh vào tử
bậc thánh đà mở bày ý nghĩa của mùa đông

à ý nghĩa của xuất phát

bao nức nở tụ hội ngẩng đầu lên
thét một tiếng lớn
bị chúa sót quên rồi

— Bắc Đảo

Monday, May 18, 2026

Louise Glück - Telemachus li cách

Telemachus li cách

Thuở còn nhỏ lúc tôi nhìn
vào đời cha mẹ, bạn biết
tôi đã nghĩ gì không? Tôi đã nghĩ
thật thương tâm. Giờ tôi nghĩ
thật thương tâm, mà lại còn
loạn trí. Lại còn
rất buồn cười.

— Louise Glück