Tuesday, February 3, 2026

Emily Dickinson - ["Tự nhiên" là cái ta thấy]

"Tự nhiên" là cái ta thấy –
Ngọn đồi – buổi ban Chiều –
Con Sóc - Nhật thực - con Ong nghệ kia –
Đâu – Tự nhiên là Trời cao –
Tự nhiên là cái ta nghe –
Chim Bobolink - Biển khơi –
Tiếng sấm – con Dế nọ –
Đâu – Tự nhiên là sự Hoà âm –
Tự nhiên là cái ta biết –
Nhưng không thuật nào nói đặng –
Trí khôn Ta bất lực vô ngần
Trước lẽ Giản đơn của người

— Emily Dickinson

Sunday, January 25, 2026

António Lobo Antunes - Lí thuyết và thực hành của những ngày Chủ nhật


António Lobo Antunes

Lí thuyết và thực hành của những ngày Chủ nhật

Tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế
vậy Filomena? Chín giờ anh không cần phải tới sở làm, em không cần phải tới nhà trẻ lúc tám rưỡi, nên chúng ta dậy trễ, ăn sáng ở quán cà-phê ấy, mua báo, thuê hai cuốn phim ở tiệm băng video.

(phim
hình sự cho anh và phim lãng mạn cho em)

không ai ra lệnh
ta, không ai đòi ta điều gì, không ai phiền ta, vậy tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế vậy Filomena, tại sao luôn vào cùng giờ đó trên đồng hồ, tại sao có chuyện anh thấy muốn thứ gì đó mà anh không biết là gì, thay vì ở đây cùng em? Và anh yêu em, thật vậy, lẽ ra anh nên cảm thấy lòng dễ chịu, nhưng lại không, đó chẳng phải nỗi sầu lo, chẳng phải cơn uất muộn, chỉ là một cảm giác mô hồ, một cơn khó chịu, một nỗi bất an mà anh không hiểu và tuy vậy anh không thể hình dung anh chỉ một mình, anh không thể hình dung anh thiếu em, anh yêu gương mặt em, thân thể em, anh cưới em vì tình yêu, tại sao những ngày Chủ nhật dài đến thế vậy Filomena?

chuyện không liên quan đến khu phố này, anh thích khu phố này, chuyện không liên quan đến căn hộ này, ba phòng là đủ lắm rồi, và ta còn có cả ban-công, quang cảnh, Queluz, con sông, mấy con thuyền, nếu ta muốn ta có thể đến Sintra hay Cascais, đi rạp phim ở Amoreiras, ta có thể đi ngắm đồ ở các cửa hàng, ta có thể đi Cacém chơi bài với anh trai em cùng cô vợ anh ấy, anh trai em nằm ườn trên sofa, râu chưa cạo, tay chống cằm, trông buồn chán hết sức, hay đổi kênh truyền hình và ăn bỏng ngô trong túi giấy bồi và vợ anh ấy trong bếp cứ xuỵt đuổi bọn trẻ con ra ngoài và đang ủi đồ. Em có nghĩ là họ thấy Chủ nhật nó dài không Filomena? Em chui vào bếp để nói chuyện, anh ăn bỏng ngô và lật lướt qua các bức ảnh chụp chuyến đi du thuyền của họ đến Tangier vào tháng Tám

Wednesday, January 7, 2026

Charles Simic - Nỗi sợ

Nỗi sợ

Nỗi sợ truyền từ người sang người,
Không hay biết chi,
Như chiếc lá truyền đi cơn rùng mình
Sang một chiếc khác.

Bỗng chốc toàn bộ cây nhất loạt rung rung,
Mà nào có thấy một làn gió động.

— Charles Simic

Friday, January 2, 2026

Czesław Miłosz - Miłosz ABC – Sự mầu nhiệm

 Miłosz ABC – Sự mầu nhiệm (Miraculousness)

Là một con người và sống giữa con người là điều mầu nhiệm, dẫu cho ta biết được các việc gớm ghiếc và các tội ác mà người ta có khả năng thực hiện. Ngày ngày ta cùng nhau dựng nên một tổ ong khổng lồ có hàng triệu ô trong đó ta gửi vào mật ngọt của các tư tưởng, các khám phá, các phát minh, các công việc, các cuộc đời. Ngay cả lối ví von ấy cũng khó lòng chính xác; nó quá tĩnh tại, bởi lẽ công việc chung của ta, dù ta gọi nó bằng tên gì – xã hội, văn minh, polis trong Hi-lạp ngữ – đều luôn biến đổi và tự phô bày ra theo nhiều màu khác nhau, chịu chi phối của thời gian hoặc lịch sử. Lại nữa, đây cũng là một miêu tả chưa đủ đầy, do nó làm lơ điều quan trọng nhất hạng: rằng sự sáng tạo tập thể này được trao sức sống bởi nguồn nhiên liệu riêng tây, ẩn tàng chính là những khát vọng và quyết định cá nhân. Sự lạ lùng về ơn gọi khác thường của con người chủ yếu nằm ở chỗ họ là một sinh vật nực cười, đời đời thiếu chín chắn, vậy nên một bọn trẻ con có tâm tính rất ư thất thường, cười đây khóc đó, lại là minh hoạ rõ nhất cho sự thiếu trang nghiêm của con người. Một vài năm trôi đi, rồi bất thần chúng là người lớn, nắm quyền kiểm soát và được cho là sẵn sàng đưa ra các tuyên cáo về các việc công và thậm chí – ai mà mong chờ điều này kia chứ! – còn tự mình lãnh lấy bổn phận làm cha làm mẹ, mặc dù chuyện hẳn sẽ tốt đó nếu trước nhất họ có hẳn cho mình cả một cuộc đời để sửa soạn cho điều này.

Monday, December 29, 2025

Czesław Miłosz - Phải nên, không nên

Phải nên, không nên

Người ta không nên yêu lấy mặt trăng.
Cây rìu trên tay y chớ nên mất đi sức nặng.
Vườn cây nên dậy mùi táo thối
Và nên để tầm ma mọc lên ít nhiều.
Người ta khi nói không nên dùng lời theo lòng mê thích,
Cũng chớ tách chẻ hạt ra hầu thấy được thứ bên trong.
Không nên làm rơi vụn bánh mì, cũng chớ nên nhổ vào lửa
(Ít ra tôi được dạy như thế hồi ở Lithuania).
Khi bước lên những bậc thang cẩm thạch,
Kẻ lậu hèn ấy, hãy lấy giày cố khoét cho chúng mẻ ra
Như nhắc rằng những bậc thang đâu thể còn đó hoài hoài.

— Czesław Miłosz

Friday, December 26, 2025

Ambrose Bierce - The Devil's Dictionary - Chửi thề

Chửi thề (Curse) (động từ). Là dùng một cây hèo ngôn từ làm điệu bộ tuồng như hăng hái dốc sức quất tới tấp.[1] Đây là một hoạt động mà trong văn chương, nhất là trong hí kịch, thường làm cho nạn nhân đến chỗ vong mạng. Dầu vậy, cái hoạ lãnh phải một đòn chửi thề là một mối nguy cơ chỉ làm nên một khoản nhỏ khi người ta ấn định các mức phí bảo hiểm sinh mạng.

Czesław Miłosz - Miłosz ABC – Tởm lợm


Czesław Miłosz

Tởm lợm (Disgust)

Chính Józef Czapski kể tôi nghe câu chuyện này xảy ra hồi Cách mạng Nga. Trong một tiệm ăn ở ga tàu hoả, có một người đàn ông đang ăn, một người trông biệt khác với khung cảnh xung quanh nhờ vào lối vận y phục và cử chỉ, và đây hiển nhiên là người thuộc giới trí thức tiền chiến. Ông ấy thu hút sự chú ý của một đám lưu manh cũng đương ngồi ở tiệm. Chúng qua bàn ông ấy rồi bắt đầu chế giễu ông ấy, sau cùng thì chúng còn nhổ vào xúp của ông ấy nữa. Người đàn ông này không làm gì để tự vệ và cũng không gắng sức xua đi bọn côn đồ. Chuyện này diễn ra cả một đỗi lâu. Đột nhiên ông ấy rút ra khỏi túi một khẩu súng lục, đưa nòng súng vào miệng rồi tự bắn mình. Hẳn nhiên cái ông ta gặp phải ở đây chính là giọt nước cuối cùng của một cái li vốn đã đầy tràn cảm giác gớm ghê trước cái xú lậu vốn đã dấy lên trong lòng bấy lâu. Rõ ràng ông ta là người mong manh, được nuôi dạy ở một chốn hoà nhã trước đây từng bảo vệ ông tránh được thực tại bị xử hung bạo vốn được các thành phần hạ lưu chấp nhận là lẽ bình thường. Sự hung bạo và bỉ lậu ấy đã vươn tới được bề mặt cùng với cuộc cách mạng và trở thành một phẩm chất của đời sống Xô-viết.

Năm 1939, cư dân Wilno và Lwów bất thần khám phá ra vẻ xám xịt và xú lậu của đời sống thế này. Tôi dám đánh liều mà đoán định rằng Stanislaw Ignacy Witkiewicz đã tự sát không hẳn do nỗi khiếp sợ mà do cơn tởm lợm trước cái điều ông biết sẽ xảy đến, cái mà ông đã miêu tả trong những chương sau cùng của quyển tiểu thuyết Pożegnanie jesieni (Giã từ mùa thu). George Orwell, người chưa từng đọc Witkiewicz, sau rốt đã tả đời sống thường nhật dưới sự cai trị của trật tự mới theo cùng một cách ở trong quyển 1984: xám xịt, nhơ nhuốc, chán chường, đủ các mùi bay ra từ mấy tiệm ăn rẻ tiền. Gọi cái loại mẫn cảm này là “mĩ cảm” thì chưa rốt ráo. Tốt hơn ta nên ngẫm xem trong cuộc nhân sinh thì điều chi không thể cam chịu được và ngẫm về cái sự quy tụ những điều này về một mối trong một số hoàn cảnh nhất định. Từ đó dẫn đến một kết luận rằng bảo vệ con người là một sự cần thiết, thậm chí, nếu cần, bằng cách gói họ lại trong một vỏ bọc của các ảo tưởng.