Yanabu Akira
‘Liberty-Freedom’: Sự phản kháng của Yanagita Kunio
* “Jiyū: Yanagita Kunio no hanpatsu” 自由:柳田國男の反発, trong Yanabu Akira 柳父章, Honyakugo seiritsu 翻訳語成立事情 (Conditions surrounding the
formation of translated terms = Kiến lập tình huống nơi những từ ngữ được phiên
dịch) (Tokyo: Iwanami shinsho, 1994), tr. 173–91.
1. Jiyū 自由 [tự do], chữ nhầm chữ
Yanagita Kunio 柳田國男 (1875–1962) thuật lại hồi ức sau:
Xin cử ra một ví dụ, hồi lên năm lên
sáu, tôi gặp phải cụm “jiyū minken” 自由民權 (tự do dân quyền), ngay khi từ này tràn vào [Nhật] như cơn
sóng. Nhà tôi ở làng, ngày nọ một thanh niên cờ bạc say bí tỉ và ngủ gục ngay
trên ngưỡng cửa nhà chúng tôi, tịnh không động đậy. Tôi tìm cách nhờ người kéo
hắn đi, rồi người này người kia nắm lấy thân hắn và tìm cách nhấc hắn đi, lúc ấy
hắn la lên: “Quyền tự do của tôi” ( jiyū
no ken da 自由の權だ). Tôi nhớ rõ là hắn hét lên. Trải nghiệm
này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết
sức. Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc
phiền nhiễu. Trải một thời gian lâu sau đó, tôi không thể tự mình rũ bỏ lòng phản
cảm đối với Itagakia Taisuke (1837–1919), thủ lĩnh của Phong trào Tự do Dân quyền
thời đại đó.[1] (一つの例を舉げますと、私は五つ六つの頃に、丁度日本に「自由民權」といふ言葉が潮の如くに流れ込んで来る時代に遭遇致しまして、私の家は村でありますが、或日一人の若い博徒が泥醉して自分の家の門口に寢てしまつて動かぬ、それを立退かせようとして、内からも外からも色々な人が手を掛けて起さうとしますと、その人が「自由の權だ」といつて怒鳴つたことを記憶して居ります。これが自由といふ言葉に対する私達の概念を頗る混亂させまして、何だか非常に厭な困つたもののやうに感じ、久しい間その時代の自由民權運動の首領であつた板垣退助さんに対する反感のやうなものが拔け切らずに 居ります。)
Có hai thứ tôi
muốn lưu ý trong đoạn trích dẫn này. Thứ nhất là sự tình rằng, mặc dù say xỉn và ngủ thiếp đi ở
ngưỡng cửa nhà người khác, tay thanh niên cờ bạc ấy vẫn thốt rõ lên lời rằng:
“Quyền tự do của tôi”. Tôi đặc biệt lưu tâm đến cách từ jiyū được dùng
trong trường hợp này. Đây là một thuật ngữ được lưu hành thời điểm đó, và bấy
giờ người ta dùng nó ở nhiều tình huống khác nhau. Cũng có nhiều trường hợp mà
từ này được dùng không phù hợp, như tôi sẽ giới thiệu bên dưới. Nghĩa của nó
trong trường hợp như vậy không được người ta hiểu rõ. Vậy nên, ta có một từ có
nghĩa không được hiểu rõ, dầu vậy người ta sẵn lòng dùng nó và nó trở nên thịnh
hành. Như tôi đã lưu ý mấy lần, đây thường là một trong những kết quả đặc biệt
của các dịch ngữ.
Luận điểm còn lại của tôi phát xuất từ góc nhìn của Yanagita Kunio về sự cố này. “Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức”, ông viết như vậy. “Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu”. Dầu đây là một trải nghiệm thời ấu thơ, song “trải một thời gian lâu sau đó” sự này vẫn tiếp diễn. Khi nghĩa của một từ được nhiều người hiểu được, thì nhìn nhận của người ta về nó như một từ tốt hay xấu là điều trở nên hệ trọng cực kì. Trong trường hợp đây, từ này được liên hệ với một hành vi quyền hoạnh của tay thanh niên vô danh nọ. Song, đấy chưa phải tất cả, bởi lẽ bản thân từ jiyū vốn đã mang một nghĩa tiêu cực.