Phỏng vấn Zbigniew Herbert: Đàm thoại về chuyện viết thơ
A. Tôi sẽ bắt đầu bằng một vấn đề có thể
trông tầm thường. Tôi có chú ý thấy độc giả ở những buổi đọc thơ thường hỏi về
sự khởi đầu của người viết. Họ đơn giản muốn biết cách mà anh trở thành một người
viết. Anh từng được hỏi mấy câu như vậy chưa?
B. Chắc chắn là đã từng. Tôi nghĩ anh
cũng nêu ra khéo đó, do tôi cũng nghĩ rằng những câu hỏi như thế luôn luôn hoặc
gần như luôn luôn được định đặt trong cơn khát khao muốn khám phá một bí quyết,
một bùa phép huyền bí, một công thức giúp cho việc thành những ai mộng về sự nghiệp viết có thể đạt được
sự nghiệp ấy.
A. Vậy bí quyết là gì?
B. Tôi đâu biết, đôi khi tôi thấy dường
như chẳng có bí quyết gì. Đừng hiểu lầm tôi: tôi không thích hạng được gọi là
người viết từ cảm hứng, những người vờ với công chúng rằng họ dịch di trong những
cõi mà độc giả tầm trung không tiếp cận nổi. Tôi cũng không thích những người nảy
ra hàng bao cuộc phiêu lưu quái lạ trong đời họ, những cuộc phiêu lưu mà họ cho
là góp phần vào sự trở thành nghệ sĩ nơi họ. Dạng đặc tả bản thân thành hạng
phi phàm là theo trường phái Lãng mạn và hoàn toàn xa lạ đối với tôi.
A. Tôi không bỏ cuộc dễ dàng đâu. Chắc
chắn là khó phủ nhận chuyện rằng một số khía cạnh trong truyện đời người viết,
kinh nghiệm chẳng hạn, có thể phát khởi khả năng viết.
B. Tôi dám cả tiếng nói rằng mọi người
hoặc hầu hết mọi người đều có khả năng viết, y như việc họ có khả năng vẽ hoặc
soạn những khúc nhạc giản đơn. Nếu có khác biệt chi, đó là chuyện thi sĩ sẽ viết
cho thi sĩ, nhà soạn nhạc thì chỉ có đồng nghiệp chuyên môn của họ mới hiểu rõ,
và hoạ sĩ chỉ vẽ cho hoạ sĩ khác. May thay, chuyện này không phải thế. Khán giả
hoàn hảo cũng là một hoạ sĩ, hơn nữa lại thuộc hàng hiếm hoi. Đó là một người
có thể tái tạo bản aria, màu sắc của một bức hoạ, một bài thơ, trong chính mình
và cùng sự chuẩn xác giống vậy, sự hân hoan vô tư giống vậy, như thể y là tác
giả.
A. OK. Cho là anh đúng đi. Có lẽ một độc
giả – hoặc thính giả hay khán giả – là một tác giả tiềm năng, tức là nói rằng,
họ có thể tạo ra các thứ, nhưng lại lơ là quên đi [việc tạo ra đó], có lẽ do
thiếu dũng khí. Nhưng anh có dũng khí. Tôi muốn biết khi nào và tại sao.
B. Được thôi, tôi sẽ nói vầy: có lẽ nó
thực sự quan trọng. Tôi bắt đầu viết trong chiến tranh. Trong quyển này, bài thơ
‘Two Drops (Hai giọt nước)’ không phải bài đầu tiên tôi viết, nếu tôi nhớ đúng,
nhưng đó là bài đầu tiên tôi có thể kí tên ưng thuận nhiều năm sau đó. Thuở ấy
tôi là một thiếu niên. Cuộc chiến đang diễn ra. Suốt một trong những vụ ném bom
dữ dội, lúc ấy tôi đang chạy đến chỗ trú ẩn và ở kia trên những bậc thang tôi
thoáng thấy – lúc đó tôi đang bị nỗi sợ lôi đi – một cặp trẻ tuổi đang hôn
nhau. Cảnh đó thực tình phi phàm trong tình huống ấy.
A. Sao lại phi phàm?
B. Bởi trong những tình huống như cái
tôi vừa tả, nỗi kinh hãi trùm lấy mọi người hoàn toàn, khiến họ quên đi những
người họ yêu. Bản năng sinh tồn, được đánh thức trong những thời khắc hiểm nguy
tột cùng, tràn ngập lòng ta một cơn sợ ghê khiếp, một ý lực duy nhất nhằm cứu mỗi
bản thân ta mà thôi. Trong khi hai người kia chống lại tình cảnh tàn khốc cuồng
bạo quanh họ bằng làn thế lực mỏng mảnh của ái tình.
A. Và anh quyết định miêu tả sự đó?
B. Không hẳn miêu tả mà là biểu hiện.
Anh thấy đó, tôi không có từ ngữ truyền tải lòng phản kháng và chống đối. Lẽ ra
tôi có thể viết mấy chữ như: “A, bọn người đáng tởm chúng bây; chúng bây đang
giết bao người vô tội, lũ khốn kiếp; cứ chờ đó, chúng bây sẽ bị trừng phạt vì
gây ra chuyện này.” Tôi không nói vậy, bởi tôi muốn cho cái tình huống kì dị
này một kích thước rộng hơn, hay đúng hơn, muốn cho thấy cái nhìn nhân bản phổ
quát, sâu xa hơn của tình huống ấy.
A. Nhưng chẳng phải làm thế sẽ khiến thi
ca thành mọt thứ lạnh lẽo, trừu tượng, bị cắt rời khỏi đời sống? Giải thích của
anh về nguồn gốc, nguồn cơn cho bài thơ ‘Two Drops’ đã làm rõ nhiều điều đối
với tôi, nhưng còn độc giả không biết đến giải thích này thì sao?
B. Không thể, hay thậm chí không cần thiết,
giải thích những bài thơ bằng cách miêu tả thời khắc gây cảm hứng làm nên
chúng. Đó là nguyên do đầu tiên cho việc tôi không muốn nói về đời mình. Một
tác phẩm văn chương, tựa như bao tác phẩm nghệ thuật, cần phải độc lập, có chỗ
đứng riêng, tách biệt khỏi những kinh nghiệm vốn là thứ vời gọi ra tác phẩm đó
từ cái vùng âm ám chứa đựng bao hình ảnh, cảm xúc, trực giác. Nó phải được tóm
bắt lấy trong ngôn ngữ theo một phương cách hướng đến trí tưởng tượng. Tôi vừa
viết một bài luận văn về văn hoá Minos, vốn được khám phá ra ở xứ Kreta [Krētē]
cách đây bảy mươi năm và kể từ đó đã gây phiền muộn cho giới học giả. Người
khám phá ra nền văn hoá ấy, Evans, cùng những nhà khảo cổ khác nữa, đã chuyển lại
cho ta những phế tích của những toà cung điện nguy nga, những bức bích hoạ, những
món đồ gốm tuyệt diệu từ cách đây ba nghìn năm; khi nhìn vào những giai phẩm ấy,
ta mang lòng ngưỡng mộ và kinh thán. Nhưng ta biết quá ít về những cuộc đời của
người Minos và cách thức tâm trí họ hoạt động, bởi văn tự của họ (cái được gọi
là chữ linearne B và chữ tượng hình) vẫn chưa được giải mã. Theo đó tôi muốn
nói rằng chỉ bằng ngôn ngữ thì con người mới được biểu hiện ra đủ đầy – những
cơn muộn phiền và những niềm hân hoan, những giá trị mà y ưng thuận, những niềm
tin của y.
A. Dù vậy tôi muốn quay lại câu hỏi của
mình. Điều ngăn trở độc giả trong việc đọc thi ca đương đại, đối với tôi, dường
như là ở cái hơi lạnh lẽo, trừu tượng và có lối trí thức quá đà. Anh chưa từng bị
mấy lời chê trách kiểu đó hướng vào mình à?
B. Anh đang động vào một vấn đề rất trọng yếu và tại đây ta phải dọn dẹp bớt mấy ngộ nhận cứ mọc lên xung quanh thi ca đương đại. Tôi sẽ không nói về toàn bộ thi ca đương dại, vì không thể nào nói vậy, nền thi ca này được tạo nên từ nhiều xu hướng và phần nhiều trong số ấy tôi không mang lòng đồng cảm. Nhưng tôi sẽ nói về cách mình thấy những thứ này. Tuy vậy, để tôi xoay chuyển vai trò chúng ta lại một lúc và hỏi anh một câu. Anh nghĩ diều gì quan trọng nhất đối với một tác giả?
A. Được đọc, và được đọc kèm sự công nhận,
hoặc thậm chí sự ái mộ.
B. Cố nhiên rồi, nhưng quan trọng hơn cả
điều đó là chuyện độc giả chấp nhận cái mà tôi sẽ gọi là những quy tắc của cuộc
chơi. Nguyên lí cốt yếu là hiểu được những ý hướng của tác giả, những mục tiêu,
thi pháp, thế giới của họ. Điều này không liên hệ gì đến thái độ thiếu phê phán
đối với nghệ thuật, nhưng anh đâu thể kì vọng tác giả làm được mọi thứ, vừa vui
đùa đồng thời lại buồn sầu, vừa thâm thuý vừa dễ chịu, vừa uyên bác vừa khờ khạo.
Người viết mời độc giả vào một cuộc chơi, một cuộc chơi nghiêm túc, một cuộc
chơi của trí tưởng tượng, và người ta chỉ có thể đoán định họ trên cách thức mà
họ tiến hành cuộc chơi ấy, tức là nói rằng, cách thức mà họ thực hiện những hứa
hẹn của mình trong cái khung sườn của quy ước hay khế ước mà họ đã đề xuất. Đó
là cách duy nhất phê bình một cuốn sách. Nhưng ta hãy quay lại vấn đề chết tiệt
kia về lối trí thức của thi ca đương đại.
A. Tại sao lại là chết tiệt...?
B. Bởi do nó dựa trên một ngộ nhận mà
tôi sẽ tìm cách xoá tan đi. Đúng thật có chuyện phần lớn độc giả thích mấy bài
thơ, dạng như, dạt dào cảm xúc, tức là mấy bài thơ mà trong đó ta dễ dàng nhận
ra được những cảm xúc mà ta biết. Nên ta sẽ có cảnh tà dương cùng cảm giác ưu uất
đi cùng cảnh đó, hoặc ý nghĩ ưu thương về một người vừa mới qua đời, hoặc niềm
hân hoan từ việc gặp một người thân ái mà ta đã lâu không gặp. Tôi không có ý
chế nhạo mấy cảm giác như thế...
A. Đặc biệt từ lúc trong tay của một
Słowacki or Kochanowski…
B. Chính xác. Tôi thấy nản lòng, hỡi Chúa,
Mấy lời than van, v.v.. Nhưng quay trở về chính tôi, tôi muốn nói rằng
trong thái độ của mình đối với cảm xúc thì tôi có một chút nghi ngờ hoặc dè dặt,
do tôi đã thấy quá nhiều cú bùng nổ lòng nhiệt tình hoặc bùng nổ lòng oán ghét
đối với những người hoặc những sự vật không đáng chịu những bùng nổ đó. Thế nên
sự kiểm soát của lí trí là điều vô giá.
A. Cho nên, anh là một thi sĩ trí thức.
B. Tôi không thích cái nhãn đó, bởi tôi
không biết cái đó nghĩa là sao. Tôi chỉ biết tôi không viết một dòng nào nhằm
khiến cho bất kì ai bị chói loá trước kiến thức hay sự học vấn của tôi. Và ngoại
trừ việc đó, tôi có một trải nghiệm mà tôi tự cho phép mình dẫn ra ở đây. Hồi
tôi còn học triết, mấy đứa bọn tôi có nhiệm vụ quan sát một đám trẻ con được chọn
sẵn trong trường mẫu giáo và ghi chú vào mấy tờ giấy lớn những hoạt động nào là
biểu hiện của ý chí, lí trí hoặc cảm xúc. Tôi nhanh chóng đi đến kết luận rằng
ta đâu thể chia tách ba vực này của tâm hồn. Điều đó cũng đúng với người lớn nữa.
A. Nhưng chủ đề của thơ ông đâu phải
kinh nghiệm trực tiếp mà lại là trầm tư về thế giới?
B. Cho dù có vậy thật, điều đó cũng
không sao loại trừ được một tâm thái cảm xúc. Sau rốt, ta có thể và thậm chí
nên suy nghĩ bằng nhiệt tâm.
A. Dầu vậy anh sẽ đồng ý rằng một số ý
tưởng, sức trội bật của chúng trong thi ca, có thể làm cho việc đọc trở nên khó
khăn hơn.
B. Có lẽ, Nhưng hãy hiểu đúng cho tôi: một
bài thơ nghe như một bản ghi âm phát một bản tango cũ là thứ không hấp dẫn tôi.
Tôi muốn độc giả, và đây là niềm tin của tôi ở độc giả, muốn họ là đồng minh của
tôi, hợp tác với tôi. Tôi nghĩ rằng những người viết bày ra tính giải trí dễ
dãi chính là những người mang lòng khinh miệt độc giả của họ. Tôi đối đãi độc
giả như đối tác vậy, hết mực tôn trọng sự khác biệt của họ, năng lực phán đoán
và lời phê phán của họ.
A. Anh có đồng ý với khẳng quyết rằng
trong thơ ông thì nội dung quan trọng hơn hình thức, tức là anh đặt ý nhấn mạnh
nhiều hơn ở chỗ “điều gì” được nói hơn là “cách thức” nó được nói ra?
B. Học đường khiến chúng ta quen với việc
phân chia thành nội dung và hình thức; rõ ràng là anh có nhớ cái cách mà các
giáo viên từng hành hạ chúng ta bằng mấy bài tập viết lại một bài thơ theo câu
chữ của riêng ta. Dĩ nhiên chuyện đó nhảm nhí. Chỉ ở mấy bài thơ dở thì anh mới
có thể tách nội dung khỏi hình thức, tách những tư tưởng cao quý khỏi lối biểu
hiện vụng cho những tư tưởng đó. Có ý tưởng cho rằng thi sĩ là người rót nội
dung vào những cái chai hình thức nho nhỏ khác nhau, và ý này hoàn toàn sai.
Chai này là thể sonnet, chai kia là thể bát cú, chai nọ là một thể được gọi là
không vần. Thực tế thì nội dung đâu thể tách khỏi hình thức ngay từ lúc khởi sự
hành động sáng tạo.
Khi tôi viết, tôi không tìm cách gây
kinh ngạc cho độc giả bằng một kho các lối ví von, bằng ngôn ngữ kì quặc hoặc bằng
những nhịp và hình ảnh tinh luyện. Trong thơ của mình, tôi muốn từ ngữ cùng những
cấu hình của chúng phải trở nên trong suốt.
A. Như thế nghĩa là sao?
B. Nghĩa là chúng không nên thu hút sự
chú ý của độc giả, chúng không nên xui độc giả phải thốt lên “Đúng là thiên
tài!”, nhưng chúng nên phô bày ra thực tại theo lối thuần khiết và minh bạch nhất.
A. Vậy lí tưởng thi tính của anh là thi
ca khách quan, hay còn được biết là thi ca cổ điển – trong sự phân biệt với thi
ca Lãng mạn vốn vũ bão, gây xúc động và chủ quan?
B. Một số nhà phê bình có chiều hướng định
nghĩa nó theo lối ấy. Nhưng với tôi thì vấn đề về những sự phân tranh giữa nhiều
trường phái, khuynh hướng hay thi pháp khác nhau nó không phải sự quan trọng nhất.
Có một sự phân tranh trong thi ca vốn mang tính căn bản hơn nhiều, chính là về
các thái độ.
A. Anh có thể bàn thêm về chuyện đó không?
B. Tôi nghĩ mọi nhà thơ mới bắt đầu sẽ gắng
phô bày với chính mình và với những người thân cận rằng y là kẻ kiệt xuất, khác
với bất kì ai, gắng chứng tỏ cái tài vô song của bản thân. Nhưng nếu một văn nhân
đến tuổi ba mươi mà vẫn kiên trì trong chức nghiệp này, y sẽ không tránh được
việc đương đầu với ý nghĩ – rằng tại sao tôi viết, hòng biện hộ cho những giá
trị gì, chống lại điều bất công chi? Tài năng đành là quý giá, nhưng nó sẽ thành
ra uổng phí nếu thiếu khí cách. Thiếu khí cách ý tôi là sao? Ý tôi là lòng không
nhận thức được một thái độ đạo đức hướng đến thực tại, không có một đường ranh cương
ngạnh không thoả hiệp giữa chính và tà. Vì lẽ đó các văn nhân được trọng thị không
chỉ nhờ kĩ năng mà còn nhờ lòng bất thoả hiệp, nhờ lòng can đảm, nhờ lòng không
quan tâm cầu vọng – vốn là những phẩm tính vượt ra ngoài thẩm mĩ.
A. Một trong những tập thơ của anh có nhan Study of the Object (Nghiên
cứu đồ vật). Anh viết nhiều bài thơ mà “nhân vật chính” là hòn đá, cái ghế đẩu,
cái vòng sắt gõ cửa, cái ghế – nói cách khác, những món đồ tầm thường của đời sống
thường nhật. Ta có thể miêu tả đó là một trong những phạm vi lưu tâm của anh.
Nhưng rồi lại có một nhóm bài thơ khác, đối nghịch, tương phản rõ rệt, như ‘Elegy
of Fortinbras (Khúc ai ca của Fortinbras)’, chuyên dành cho thần thoại, lịch sử,
các khuôn mặt lịch sử hay văn chương. Anh giải quyết xung đột này ra sao?
B. Ta không nên giải quyết các xung đột. Nhưng ta nên ý thức về chúng. Một
tác phẩm nghệ thuật không phải một lí thuyết khoa học vốn cần phải liền lạc nội
tại. Chúng ta sống trong một thế giới nhiều xung đột và bản thân chúng ta là nạn
nhân của những ý tưởng xung đột, những xung động, những sự tưởng tượng. Và tôi
không nghĩ rằng di động giữa hai cực là bằng cớ cho một nhân cách yếu nhược.
A. Nhưng chừng như anh thấy phải lẽ khi chia các bài thơ của mình – như tôi
đã làm – theo một lối rất tổng quát thành thơ về đồ vật và thơ về văn hoá?
B. Đó là sự phân chia theo chủ đề, và trong chừng mực nhát dịnh thì nó giúp
định hướng ban đầu. Nhưng có lẽ anh muốn biết duyên do tôi viết thơ về cái ghế đấu
lẫn thơ về Hamlet, về cái tầm thường bình nhật và về những khuôn mặt văn hoá sùng
cao?
A. Phải, vì ắt hẳn có một số lí do dẫn dắt anh...
B. Vậy tôi sẽ gắng giải thích điều đó. Tôi từng kinh qua – nếu không tự thân
thì cũng là chứng nhân – nhiều hơn một ý hệ có thoả hiệp, kinh qua nhiều cơn gãy
đổ một hình ảnh thực tại vốn do người đời kiến tạo, kinh qua cái cảnh niềm tin chịu
khuất tòng khi đối diện các sự thực. Vào những lú ấy thì địa hạt các đồ vật, địa
hạt của tự nhiên tuồng như là một điểm chống đỡ, cũng như là một điểm khởi trình
đến chỗ sáng tạo một ảnh tượng thế giới nó có thể thuận hợp với bao nỗi từng trải
của ta. Sau cuộc khởi trình của những nhà tiên tri giả, các món đồ bày ra các gương
mặt vô tội, phải nói vậy, các gương mặt không bị bao lời dối trá làm cho mờ đục.
Nó có liên hệ với một cơn mộng xưa cũ của các thi nhân...
A. Arkadia...
B. Nơi thiên đàng, một nơi chứa niềm hạnh phúc nhân loại. Nhưng các thi nhân
không có quyền lực đối với thế giới. Vương quốc duy nhất của họ là ngôn từ. Chỉ
trong phạm vi ấy thì họ mới là kẻ cai trị và là kẻ lập pháp toàn quyền định đoạt.
A. Nhưng ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp chung dành cho toàn bộ con
người.
B. Đó chính là chỗ có vấn đề. Ngôn ngữ là một công cụ ô tạp dùng cho biểu đạt.
Bị bức cung hằng ngày, thành ra thứ tầm thường, bị người đời lấy lẽ ti tiện mà
xử. Do đó mộng của các thi nhân là vươn đến ý nghĩa trinh khiết của từ ngữ, là
trao cho sự vật những cái tên hợp cách, như Norwid nói. “Hãy để từ ngữ chỉ mang
nghĩa đúng với nghĩa tự thân chúng và chớ tuỳ theo kẻ mà chúng được dùng chống
lại”. Đó là câu trích từ một thi nhân lớn khác. Đối với tôi, đối thoại với đồ vật
là một nỗ lực như thế nhằm đạt đến những nguồn tinh khiết của ngôn từ. Nó còn là
một cuộc phản loạn chống lại các hạng dối trá.
A. Và cực kia trong tác phẩm của anh? Những bài thơ về thần thoại, lịch sử?
Các nhà phê bình nói anh là một nhà thơ của văn hoá.
B. Tôi không xem đó là lời mạ lị, dù phát ra từ đầu môi của những kẻ hay đòi
nghệ sĩ phải cách tân tuyệt đối thì nó nghe như lời trách mắng. Đây là một vấn đề
rất nghiêm trọng, nên tôi sẽ tự tiện sắp bày những điều tôi phải nói theo một lối
ít nhiều có hệ thống. Tôi thấy tuồng như lẽ cốt tử đối với mọi nghệ sĩ là gắng
gổ đẩy lên nữa mối quan hệ chủ động của chính họ với truyền thống, nếu được thì
với truyền thống như một toàn thể chứ không phải chỉ một thế hệ, như một số nhà
thơ trẻ thường làm, bỉ bôi các bậc tiền bối, và quên mất Homer, Ajschylos, Horacy,
Dante và Shakespeare.
A. Nên anh đề xuất một chuyến đi vào trong quá khứ?
B. Đó hoàn toàn không phải cái tôi đề xuất. Tôi nói “mối quan hệ chủ động
với truyền thống”, một sự công nhận rằng chúng ta là một mắt xích trong một chuỗi
lớn nhiều thế hệ, từ đó nó đặt trách nhiệm lên chúng ta. Người ta thường nói về
một ‘di sản văn hoá’. Nhưng văn hoá đâu có được thừa kế theo lối cơ giới, giống
như căn nhà, thí dụ vậy, vốn được cha mẹ ai đó để lại cho họ. Ta phải cố công đổ
mồ hôi để có được nó, tự mình đoạt lấy, tự mình chứng nghiệm. Và ở đây nếu đem
ra lời biện minh và giải thích rằng thời ta sống là thời phi thường, thì cũng
không ích gì, bởi lẽ mọi thời đại của nhân loại đều phi thường. Ta cũng sai nếu
giả định rằng văn hoá tự sống và tự duy trì, được lưu trữ trong các thư viện và
viện bảo tàng. Lịch sử dạy ta rằng các dân tộc cùng những thành tựu của họ đều
có thể bị tiêu diệt gần như hoàn toàn. Trong thời chiến tôi đã thấy nhiều thư
viện bốc cháy. Cùng một ngọn lửa thiêu huỷ sách khôn lẫn sách dại, sách chính lẫn
sách tà. Khi ấy tôi hiểu rằng tâm tưởng hư vô là mối đe doạ lớn nhất cho văn hoá.
Cái tâm tưởng hư vô của lửa, sự ngu xuẩn, lòng cừu hận.
A. Ấy vậy anh trở lại với kí ức, với kinh nghiệm cá nhân?
B. Phải, mặc dầu tôi có nỗ lực tỏ ra khách quan trong khả năng mình và không
nói về bản thân. Tôi thấy tôi không giỏi chuyện tỏ ra như vậy.
A. Do đó có lẽ để khép lại thì anh có thể nói văn hoá với anh là gì và tại
sao lại có nhiều dẫn dụ về Kinh Thánh, về thần thoại và lịch sử trong thơ của
anh?
B. Chức năng cơ bản của văn hoá là xây dựng các giá trị đáng sống. Có một ý
niệm xưa cũ về người nhân văn, mà tôi thấy thân ái và có nhiều ý nghĩa, dầu với
người khác nó trông nực cười và quá thời. Với người khác đó có nghĩa là một quý
ông có tuổi đọc sách kinh điển nhưng lại lạc lõng trong thế giới hiện đại; một di
chỉ bất lực của quá khứ. Nhưng một người nhân văn là người gắng công dung nhập,
gắng công làm quen và tự tạo lấy cho mình một khu vực thực tại rộng nhất khả dĩ.
Để tạo một thế giới, hay ít nhất là ảnh tượng thế giới, theo khuôn thức của con
người – khuôn thước của năng lực thông hiểu và cảm nhận. Tại sao tôi trở lại Kinh
Thánh hay các chủ đề lịch sử trong thơ mình? Tôi không bao giờ làm vậy để khiến
độc giả trầm trồ. Tôi cũng không có quan điểm muốn tránh xa khỏi thực tại. Thật
may là ta đã qua thời đại đặt thần thoại ở thế đối nghịch với tính hiện thực. Các
câu chuyện và truyền thuyết cổ xưa chứa đựng những trải nghiệm căn bản của con
người. Và khi tôi viết về Apollo và Marsjasz, thí dụ vậy, tôi không chỉ sao chép
thần thoại từ cẩm nang thần thoại Hi-lạp, mà tôi đang gắng tìm lối mới đọc một
câu chuyện xưa về cuộc tỉ thí tàn bạo và trả lời câu hỏi rằng nội dung gì, sự
thật gì vẫn còn đương chảy và đương sống trong câu chuyện ấy. Không chỉ cho bản
thân tôi mà tôi còn hi vọng cho độc giả nữa.
1973
Đoàn Duy chuyển ngữ
từ bản dịch Anh văn,
Nguồn:
Zbigniew Herbert;
Conversations on Writing Poetry; The Collected Prose; 1948-1998 (bản dịch
Anh văn của Michael March and Jarosław Anders John and Bogdana Carpenter &
Alissa Valles); Ecco, 2010.
.jpg)
No comments:
Post a Comment