Saturday, November 7, 2026

Anne Carson - Bọt: Về cái cao cả nơi Longinus và Antonioni

 

Tràn

Cái Cao cả là một kĩ thuật documentary. “Documentary: thuộc về, liên hệ với, hoặc dựa vào sự ghi chép tài liệu (documentation); có tính khách quan (objective), thuộc sự thực (factual)” (Oxford English Dictionary). Lấy trường hợp quyển chuyên luận On the Sublime [Về cái Cao cả] của Longinus. Tác phẩm này là tập hợp các đoạn trích dẫn. Nó có những lập luận rối rắm, gần như không có tổ chức, không có kết luận nào có thể diễn đạt gọn lại. Những nỗ lực định nghĩa trong sách chúng thiếu cố kết hoặc lặp ý. Chủ đề then chốt (passion | thụ cảm) bị đình hoãn sang chuyên luận khác (vốn không tồn tại). Bạn sẽ lâm cảnh đọc xong bốn mươi chương (dang dở) mà không biết rõ cái Cao cả thực tế là gì. Nhưng bạn sẽ thấy lòng hưng phấn trước sự ghi chép tài liệu trong sách. Longinus trượt đi từ Homer sang Demosthenes sang Moses sang Sappho bàn về các lưỡi kiếm của thanh thế phô trương. Trích dẫn là gì? Một quote [trích dẫn] (đồng nguyên với quota) là một vết cắt, một phần, một lát cam của kẻ khác. Bạn mút lát cam, vứt cái vỏ, trượt đi mất. Một phần của cái bạn hân thưởng trong kĩ thuật tài liệu là cảm giác của nghề trộm cướp. Thuổng lấy cuộc sống hoặc những câu văn của người ta và chuồn đi với một góc nhìn, vốn được gọi là “objective” bởi vì bạn có thể khiến bất kì thứ gì thành một vật thể bằng việc xử nó theo lối này, và ấy là việc gây lòng hứng thú và nguy hiểm. Ta hãy xem ai kiểm soát sự nguy hiểm.

Ở Chương 20 trong sách On the Sublime, Longinus chúc mừng nhà hùng biện Hi-lạp Demosthenes bởi lẽ ông biết cách làm nên cơn mưa danh từ như các đòn đánh khi thuật lại một cảnh bạo lực:

Bằng thái độ! bằng vẻ mặt! bằng giọng nói! cái gã ra tay đánh có thể làm những thứ với kẻ khác mà kẻ khác không sao miêu tả cho đặng.1

“Với từ ngữ thế này” – Longinus mỉm cười – “nhà hùng biện tạo nên hiệu ứng tương tự như cái gã ra tay đánh kia – giáng xuống tâm trí các thẩm phán viên hết cú đánh này đến cú đánh nọ” – và ông trích dẫn lần nữa:

Bằng thái độ! vẻ mặt! giọng nói! Khi hắn đánh với tâm thế xấc xược, khi hắn đánh như kẻ thù, khi hắn đánh với hai nắm đấm trần trụi, khi hắn đánh với cú tát vào một bên đầu các vị —2

Luận điểm của Longinus rằng, bằng cách sắp bày cách bạo tàn những danh từ kết liên hoặc những mệnh đề danh từ, Demosthenes hoán chuyển bạo lực của các cú đấm thành bạo lực của cú pháp. Những dữ kiện của ông tràn lên trên cái khuông của văn cảnh gốc và đánh túi bụi vào tâm trí các thẩm phán viên. Hãy trông theo sự tràn này, vốn chuyển di từ gã đàn ông ra tay đánh, đến từ ngữ của Demosthenes miêu tả gã đó, đến các thẩm phán viên nghe từ ngữ này, đến Longinus phân tích toàn bộ tiến trình, đến tôi nhớ lại cuộc luận bàn của Longinus về sự ấy và sau cuối đến bạn đang đọc bản kí thuật của tôi. Cái thời khắc nhiệt cuồng nó vang dội từ tâm hồn này sang tâm hồn kia. Mỗi tâm hồn kiểm soát nó tạm thời. Mỗi tâm hồn hân thưởng nó theo từng trích dẫn.

Friday, September 4, 2026

Louis MacNeice - Li rượu


Li rượu

Cho nó lần nữa nên hình trong tay y –
Thời khắc nắm trọn như li rượu đầy.
Ngồi trơ vơ giữa gian phòng ăn trống trải...
Từ mấy ngọn đèn chùm tuyết đà rơi rơi
Tụ lại hàng lớp vây quanh ghế ngồi
Và bóp nghẹt con đường nơi cánh cửa xoay.
Thực khách sau cuối, như con rối diễn thoại
Bị bỏ rơi, mắt chăm chú trước y, van cầu:
'Cho nó lần nữa nên hình trong tay tôi'.

— Louis MacNeice

Wednesday, September 2, 2026

Bắc Đảo - Trọn vẹn


Trọn vẹn

ở điểm cùng tận của một ngày trọn vẹn
mấy tên bé mọn kia đi lùng kiếm ái tình
để lại nơi hoàng hôn những vết sẹo

tất phải có giấc ngủ trọn vẹn
tại đó thiên sứ đem lòng bận tâm đến
đặc quyền được khai hoa

vào lúc tội ác trọn vẹn được thực thi
thời đồng hồ đúng giờ
thời hoả xa lăn bánh

trong hổ phách một ngọn lửa trọn vẹn
mấy vị khách của chiến tranh
vây nó đặng sưởi ấm

sân khấu lạnh lẽo, ánh trăng trọn vẹn dâng lên
tay dược sĩ nọ đương pha chế
chất kịch độc thời gian

— Bắc Đảo

Bắc Đảo - Kì lộ hành - Đệ nhất chương


Kì lộ hành – Đệ nhất chương

Đi mất là biển cả, trở lại là bọt nước
Đi mất là dòng nước sông xuân, trở lại là đáy sông trơ trống
Đi mất là bầu trời trong, trở lại là mũi tên reo
Đi mất là hạt mầm, trở lại là sổ sách kê khai
Đi mất là cây, trở lại là củi
Đi mất là lửa lớn, trở lại là băng sương
Đi mất là truyền thuyết xưa cũ, trở lại là dao ngôn
Đi mất là chim bay, trở lại là mấy dòng thơ
Đi mất là yến tiệc tinh tú, trở lại là nền bạo chính trong đêm
Đi mất là bách tính, trở lại là đế vương
Đi mất là mộng, trở lại là bài ca
Đi mất là bài ca, trở lại là con đường
Đi mất là con đường, trở lại là miền đất khách
Thứ đi mất thứ đi mất là sự truy vấn khôn cùng
trở lại không một tiếng vọng vang 

Ta là lão ngư phu từ chốn bỉ ngạn
Giăng ra tấm lưới trầm lặng thâu vào câu chuyện bão dông
Ta là tay thợ rèn đúc dục vọng vô hình
Cho sắt thép kiên cường thêm nhờ cơn đau tôi lửa
Ta là cô thợ bên dây chuyền sản xuất dệt may
Dùng đường kim kín nhặt truy tìm gia hương giữa mây trời
Ta là kẻ tổ chức bãi công cho thợ mỏ
thích phóng âm lượng khí đốt trong từ ngữ đen sì
Ta là ngục tốt coi giữ cả đời mình
cho bầy ngựa phi nơi chìa khoá xuyên qua lỗ ngàm ánh sáng
Ta là người thủ thư già mắt kém
lắng nghe bụi đất và gió hiu trầm tư trên trang giấy
Ta là quân vương trú ở ngục tù nội tâm
khi lụa từ khung cửi khôi phục ánh ráng chiều trong mây
nhìn cảnh tà dương lưu phóng trong tấm gương đồng 

Đã đến lúc tiếng chuông sớm mai gióng giả
Đã đến lúc linh hồn nơi vực thẳm trổi lên
Đã đến lúc những tiết mùa chớp mắt
Đã đến lúc hoa nở hoa tàn nhổ ra hột trái cây
Đã đến lúc mạng nhện dựng lại luận lí
Đã đến lúc nã súng hạ sát kí ức cũ xưa
Đã đến lúc kẻ hành hình thèm khát chiếc giường trống vắng
Đã đến lúc ánh sao nối liền người sống và kẻ chết
Đã đến lúc nữ nhân cười dịu nhẹ trên mẩu quảng cáo
Đã đến lúc mãnh hổ ngân hàng xổ lồng thoát ra
Đã đến lúc những bức tượng đá cất bước đi
Đã đến lúc còi tàu rít chói tai lật nhào bầu trời
Đã đến lúc Thời đại Nặc danh
Đã đến lúc thi ca tiết lộ thiên cơ
Đã đến lúc rồi

— Bắc Đảo

Tuesday, August 18, 2026

Zbigniew Herbert - Tại sao những tác giả cổ điển

Tại sao những tác giả cổ điển

 

1 

ở thiên bốn trong quyển Chiến tranh Peloponez
Tukidydes kể lại cuộc viễn chinh thất bại của mình 

giữa những diễn văn dài từ các thủ lĩnh
chiến-trận vây-hãm dịch-bệnh
mạng lưới dày đặc các mưu đồ theo đường toan tính ngoại giao
hồi truyện đây tựa cái kim
trong một khu rừng 

xứ Amfipolis thuộc Hi-lạp
rơi vào tay Brazydas
bởi Tukidydes đem binh cứu viện muộn màng 

vì lẽ ấy ông đền trả cho thành phố quê nhà
bằng án lưu đày chung thân 

Quân lưu đày mọi thời
đều biết đó là cái giá ra sao 

2 

tướng lĩnh trong mấy cuộc chiến gần đây
nếu việc tương tự xảy đến với họ
ắt quỳ gối than van trước hậu thế
ngợi ca tính anh hùng cùng sự vô tội bản thân 

họ khống cáo hàng thuộc hạ
những đồng liêu kị đố
những ngọn gió tai ương 

Tukidydes chỉ nói
rằng mình có bảy con thuyền
trời lúc ấy mùa đông
và ông đã giong thật chóng 

3 

nếu nghệ thuật có chủ đề
là chiếc bình vỡ tan
tâm hồn nhỏ vỡ tan
cùng một nỗi xót mình to lớn 

cái lưu lại sau chúng ta
sẽ tựa hồ tiếng những tình nhân khóc nức
trong một khách sạn nhỏ dơ dáy
khi giấy dán tường hửng nắng rạng đông 

— Zbigniew Herbert

Monday, August 17, 2026

William Wordsworth - [Thế giới với ta quá sung dật]

Thế giới với ta quá sung dật; muộn và sớm,
Thâu nhận và tiêu tốn, khí lực thành ra phế tàn:
Trong Tự nhiên thứ thuộc về ta thật hiếm thấy;
Cả tâm hồn ta đã cho đi tận, bởi món lộc nhờm!
Biển khơi ấy phơi trần bầu ngực dưới trăng suông;
Muôn ngọn gió sẽ rít kêu hàng bao canh dài,
Và nay quần tụ lại tựa như hoa ngủ say;
Trước thứ này, trước mọi thứ, ta là kẻ lạc nhịp.
Nó không lay động ta. – Chúa cao cả! Tôi thà là
Kẻ Dị giáo ngậm lấy một tín niệm xa vắng;
Để tôi đây, đứng ở miền thảo nguyên êm ả,
Thoáng trông thấy điều khiến lòng bớt nỗi trơ vơ;
Mục kích cảnh Proteus trổi lên nơi biển cả;
Cũng nghe được già Triton cất tiếng tù và.

— William Wordsworth

Friday, August 14, 2026

Edvard Kocbek - Cây

Cây

tôi nghe tiếng cây và tôi thấy cây
tôi nằm dưới bóng râm chỗ nó
hoặc chạm nó rồi quật ngã,
chặt thành nhiều khúc rồi cho vào bếp lò
hoặc dùng nó dựng nên căn lán,
bất kể làm gì với nó
nó mãi là cái cây,
bất khả phân, bất khả diệt
tiếng gió xào xạc cả ngày cả đêm,
trong bếp lò, trên giường, trong bóng râm,
giữa các dòng chữ trên tờ báo
và trong làn khói giữa đất trời,
cây như bóng râm và ngơi nghỉ,
cây như chiếc nôi và quan tài,
cây như trung tâm chốn thiên đàng,
cây như tiếng xào xạc và lặng thinh,
cây như cây
và cây như từ ngữ.

— Edvard Kocbek

Wednesday, August 12, 2026

Zbigniew Herbert - Tay-nắm-gõ

Tay-nắm-gõ 

Có mấy kẻ họ trồng
vườn tược trên đầu mình
tóc chính là các lối mòn
đến các thành phố trắng màu và nhiều nắng 

viết với họ thật dễ
họ cứ nhắm đôi mắt lại
tức thì tuôn ra từ nơi vầng trán
hàng bao ảnh tượng 

trí tưởng tượng trong tôi
chính là một mảnh ván
toàn bộ nhạc cụ tôi có
chỉ mỗi một thanh gỗ 

tôi gõ lên tấm ván
và nó lên tiếng đáp lời tôi
có – có
không – không 

kẻ khác thì chuông xanh vọng tiếng rừng cây
chuông xanh vọng tiếng sông bể
tôi thì tay-nắm-gõ
từ mấy khu vườn không người gác canh 

tôi gõ lên tấm ván
và nó lên tiếng đáp
bằng bài thơ khô khốc nhuốm màu đạo lí
có – có
không – không 

— Zbigniew Herbert

Saturday, July 25, 2026

Bắc Đảo - Kì lộ hành - Tự khúc

Cớ sao từ khắc này đến thời cổ
lịch sử đảo hướng mà đi
Cớ sao vạn vật tuần hoàn ấy
quay lưng khỏi đường thời gian
Cớ sao các tin truyền xưa cổ
lại do bia đá tụng ngâm
Cớ sao đế quốc lại suy vong
như vừa tỉnh cơn mộng dài
Cớ sao máu chảy thành sông
lại trước việc đàm binh trên giấy
Cớ sao vẽ ngục tù trên đất
lại nhân danh tự do

Lẽ nào ngoài trời lại có trời
trong lời lại còn lời lặng thinh
điện thì có ái tình đoản mạch
Lẽ nào tuổi thanh xuân lên đường
như từng tờ trên lịch lưu lại
những dấu chân lui thoái
Lẽ nào bầy ngựa buổi đêm
bon chạy về tám phương
đến tận biên trời uống lấy ánh rạng đông
Lẽ nào giang sơn đổi sắc
cùng Trường thành trên giấy
chính là Rồng Xanh mang ý thơ

Thursday, July 23, 2026

Phỏng vấn Zbigniew Herbert: Đàm thoại về chuyện viết thơ


Phỏng vấn Zbigniew Herbert: Đàm thoại về chuyện viết thơ 

A. Tôi sẽ bắt đầu bằng một vấn đề có thể trông tầm thường. Tôi có chú ý thấy độc giả ở những buổi đọc thơ thường hỏi về sự khởi đầu của người viết. Họ đơn giản muốn biết cách mà anh trở thành một người viết. Anh từng được hỏi mấy câu như vậy chưa?

B. Chắc chắn là đã từng. Tôi nghĩ anh cũng nêu ra khéo đó, do tôi cũng nghĩ rằng những câu hỏi như thế luôn luôn hoặc gần như luôn luôn được định đặt trong cơn khát khao muốn khám phá một bí quyết, một bùa phép huyền bí, một công thức giúp cho những ai mộng về sự nghiệp viết có thể đạt được sự nghiệp ấy.

A. Vậy bí quyết là gì?

B. Tôi đâu biết, đôi khi tôi thấy dường như chẳng có bí quyết gì. Đừng hiểu lầm tôi: tôi không thích hạng được gọi là người viết từ cảm hứng, những người vờ với công chúng rằng họ dịch di trong những cõi mà độc giả tầm trung không tiếp cận nổi. Tôi cũng không thích những người nảy ra hàng bao cuộc phiêu lưu quái lạ trong đời họ, những cuộc phiêu lưu mà họ cho là góp phần vào sự trở thành nghệ sĩ nơi họ. Dạng đặc tả bản thân thành hạng phi phàm là theo trường phái Lãng mạn và hoàn toàn xa lạ đối với tôi.

A. Tôi không bỏ cuộc dễ dàng đâu. Chắc chắn là khó phủ nhận chuyện rằng một số khía cạnh trong truyện đời người viết, kinh nghiệm chẳng hạn, có thể phát khởi khả năng viết.

B. Tôi dám cả tiếng nói rằng mọi người hoặc hầu hết mọi người đều có khả năng viết, y như việc họ có khả năng vẽ hoặc soạn những khúc nhạc giản đơn. Nếu có khác biệt chi, đó là chuyện thi sĩ sẽ viết cho thi sĩ, nhà soạn nhạc thì chỉ có đồng nghiệp chuyên môn của họ mới hiểu rõ, và hoạ sĩ chỉ vẽ cho hoạ sĩ khác. May thay, chuyện này không phải thế. Khán giả hoàn hảo cũng là một hoạ sĩ, hơn nữa lại thuộc hàng hiếm hoi. Đó là một người có thể tái tạo bản aria, màu sắc của một bức hoạ, một bài thơ, trong chính mình và cùng sự chuẩn xác giống vậy, sự hân hoan vô tư giống vậy, như thể y là tác giả.

A. OK. Cho là anh đúng đi. Có lẽ một độc giả – hoặc thính giả hay khán giả – là một tác giả tiềm năng, tức là nói rằng, họ có thể tạo ra các thứ, nhưng lại lơ là quên đi [việc tạo ra đó], có lẽ do thiếu dũng khí. Nhưng anh có dũng khí. Tôi muốn biết khi nào và tại sao.

B. Được thôi, tôi sẽ nói vầy: có lẽ nó thực sự quan trọng. Tôi bắt đầu viết trong chiến tranh. Trong quyển này, bài thơ ‘Two Drops (Hai giọt nước)’ không phải bài đầu tiên tôi viết, nếu tôi nhớ đúng, nhưng đó là bài đầu tiên tôi có thể kí tên ưng thuận nhiều năm sau đó. Thuở ấy tôi là một thiếu niên. Cuộc chiến đang diễn ra. Suốt một trong những vụ ném bom dữ dội, lúc ấy tôi đang chạy đến chỗ trú ẩn và ở kia trên những bậc thang tôi thoáng thấy – lúc đó tôi đang bị nỗi sợ lôi đi – một cặp trẻ tuổi đang hôn nhau. Cảnh đó thực tình phi phàm trong tình huống ấy.

A. Sao lại phi phàm?

B. Bởi trong những tình huống như cái tôi vừa tả, nỗi kinh hãi trùm lấy mọi người hoàn toàn, khiến họ quên đi những người họ yêu. Bản năng sinh tồn, được đánh thức trong những thời khắc hiểm nguy tột cùng, tràn ngập lòng ta một cơn sợ ghê khiếp, một ý lực duy nhất nhằm cứu mỗi bản thân ta mà thôi. Trong khi hai người kia chống lại tình cảnh tàn khốc cuồng bạo quanh họ bằng làn thế lực mỏng mảnh của ái tình.

A. Và anh quyết định miêu tả sự đó?

B. Không hẳn miêu tả mà là biểu hiện. Anh thấy đó, tôi không có từ ngữ truyền tải lòng phản kháng và chống đối. Lẽ ra tôi có thể viết mấy chữ như: “A, bọn người đáng tởm chúng bây; chúng bây đang giết bao người vô tội, lũ khốn kiếp; cứ chờ đó, chúng bây sẽ bị trừng phạt vì gây ra chuyện này.” Tôi không nói vậy, bởi tôi muốn cho cái tình huống kì dị này một kích thước rộng hơn, hay đúng hơn, muốn cho thấy cái nhìn nhân bản phổ quát, sâu xa hơn của tình huống ấy.

A. Nhưng chẳng phải làm thế sẽ khiến thi ca thành mọt thứ lạnh lẽo, trừu tượng, bị cắt rời khỏi đời sống? Giải thích của anh về nguồn gốc, nguồn cơn cho bài thơ ‘Two Drops’ đã làm rõ nhiều điều đối với tôi, nhưng còn độc giả không biết đến giải thích này thì sao?

B. Không thể, hay thậm chí không cần thiết, giải thích những bài thơ bằng cách miêu tả thời khắc gây cảm hứng làm nên chúng. Đó là nguyên do đầu tiên cho việc tôi không muốn nói về đời mình. Một tác phẩm văn chương, tựa như bao tác phẩm nghệ thuật, cần phải độc lập, có chỗ đứng riêng, tách biệt khỏi những kinh nghiệm vốn là thứ vời gọi ra tác phẩm đó từ cái vùng âm ám chứa đựng bao hình ảnh, cảm xúc, trực giác. Nó phải được tóm bắt lấy trong ngôn ngữ theo một phương cách hướng đến trí tưởng tượng. Tôi vừa viết một bài luận văn về văn hoá Minos, vốn được khám phá ra ở xứ Kreta [Krētē] cách đây bảy mươi năm và kể từ đó đã gây phiền muộn cho giới học giả. Người khám phá ra nền văn hoá ấy, Evans, cùng những nhà khảo cổ khác nữa, đã chuyển lại cho ta những phế tích của những toà cung điện nguy nga, những bức bích hoạ, những món đồ gốm tuyệt diệu từ cách đây ba nghìn năm; khi nhìn vào những giai phẩm ấy, ta mang lòng ngưỡng mộ và kinh thán. Nhưng ta biết quá ít về những cuộc đời của người Minos và cách thức tâm trí họ hoạt động, bởi văn tự của họ (cái được gọi là chữ linearne B và chữ tượng hình) vẫn chưa được giải mã. Theo đó tôi muốn nói rằng chỉ bằng ngôn ngữ thì con người mới được biểu hiện ra đủ đầy – những cơn muộn phiền và những niềm hân hoan, những giá trị mà y ưng thuận, những niềm tin của y.

A. Dù vậy tôi muốn quay lại câu hỏi của mình. Điều ngăn trở độc giả trong việc đọc thi ca đương đại, đối với tôi, dường như là ở cái hơi lạnh lẽo, trừu tượng và có lối trí thức quá đà. Anh chưa từng bị mấy lời chê trách kiểu đó hướng vào mình à?

B. Anh đang động vào một vấn đề rất trọng yếu và tại đây ta phải dọn dẹp bớt mấy ngộ nhận cứ mọc lên xung quanh thi ca đương đại. Tôi sẽ không nói về toàn bộ thi ca đương dại, vì không thể nào nói vậy, nền thi ca này được tạo nên từ nhiều xu hướng và phần nhiều trong số ấy tôi không mang lòng đồng cảm. Nhưng tôi sẽ nói về cách mình thấy những thứ này. Tuy vậy, để tôi xoay chuyển vai trò chúng ta lại một lúc và hỏi anh một câu. Anh nghĩ diều gì quan trọng nhất đối với một tác giả?

Wednesday, July 15, 2026

Yanabu Akira - ‘Liberty-Freedom’: Sự phản kháng của Yanagita Kunio

 Yanabu Akira

‘Liberty-Freedom’: Sự phản kháng của Yanagita Kunio

 

* “Jiyū: Yanagita Kunio no hanpatsu” 自由:柳田國男の反発, trong Yanabu Akira 柳父章, Honyakugo seiritsu 翻訳語成立事情 (Conditions surrounding the formation of translated terms = Kiến lập tình huống nơi những từ ngữ được phiên dịch) (Tokyo: Iwanami shinsho, 1994), tr. 173–91.

1. Jiyū 自由 [tự do], chữ nhầm chữ

Yanagita Kunio 柳田國男 (1875–1962) thuật lại hồi ức sau:

Xin cử ra một ví dụ, hồi lên năm lên sáu, tôi gặp phải cụm “jiyū minken” 自由民權 (tự do dân quyền), ngay khi từ này tràn vào [Nhật] như cơn sóng. Nhà tôi ở làng, ngày nọ một thanh niên cờ bạc say bí tỉ và ngủ gục ngay trên ngưỡng cửa nhà chúng tôi, tịnh không động đậy. Tôi tìm cách nhờ người kéo hắn đi, rồi người này người kia nắm lấy thân hắn và tìm cách nhấc hắn đi, lúc ấy hắn la lên: “Quyền tự do của tôi” ( jiyū no ken da 自由の權だ). Tôi nhớ rõ là hắn hét lên. Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức. Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu. Trải một thời gian lâu sau đó, tôi không thể tự mình rũ bỏ lòng phản cảm đối với Itagakia Taisuke (1837–1919), thủ lĩnh của Phong trào Tự do Dân quyền thời đại đó.[1] (一つの例を舉げますと、私は五つ六つの頃に、丁度日本に「自由民權」といふ言葉が潮の如くに流れ込んで来る時代に遭遇致しまして、私の家は村でありますが、或日一人の若い博徒が泥醉して自分の家の門口に寢てしまつて動かぬ、それを立退かせようとして、内からも外からも色々な人が手を掛けて起さうとしますと、その人が「自由の權だ」といつて怒鳴つたことを記憶して居ります。これが自由といふ言葉に対する私達の概念を頗る混亂させまして、何だか非常に厭な困つたもののやうに感じ、久しい間その時代の自由民權運動の首領であつた板垣退助さんに対する反感のやうなものが拔け切らずに 居ります。)

Có hai thứ tôi muốn lưu ý trong đoạn trích dẫn này. Thứ nhất là sự tình rằng, mặc dù say xỉn và ngủ thiếp đi ở ngưỡng cửa nhà người khác, tay thanh niên cờ bạc ấy vẫn thốt rõ lên lời rằng: “Quyền tự do của tôi”. Tôi đặc biệt lưu tâm đến cách từ jiyū được dùng trong trường hợp này. Đây là một thuật ngữ được lưu hành thời điểm đó, và bấy giờ người ta dùng nó ở nhiều tình huống khác nhau. Cũng có nhiều trường hợp mà từ này được dùng không phù hợp, như tôi sẽ giới thiệu bên dưới. Nghĩa của nó trong trường hợp như vậy không được người ta hiểu rõ. Vậy nên, ta có một từ có nghĩa không được hiểu rõ, dầu vậy người ta sẵn lòng dùng nó và nó trở nên thịnh hành. Như tôi đã lưu ý mấy lần, đây thường là một trong những kết quả đặc biệt của các dịch ngữ.

Luận điểm còn lại của tôi phát xuất từ góc nhìn của Yanagita Kunio về sự cố này. “Trải nghiệm này khiến cho khái niệm của chúng tôi đối với từ jiyū thành ra hỗn loạn hết sức”, ông viết như vậy. “Bằng lẽ nào đó tôi cảm thấy như thể nó là một thứ rất mực khó ưa hoặc phiền nhiễu”. Dầu đây là một trải nghiệm thời ấu thơ, song “trải một thời gian lâu sau đó” sự này vẫn tiếp diễn. Khi nghĩa của một từ được nhiều người hiểu được, thì nhìn nhận của người ta về nó như một từ tốt hay xấu là điều trở nên hệ trọng cực kì. Trong trường hợp đây, từ này được liên hệ với một hành vi quyền hoạnh của tay thanh niên vô danh nọ. Song, đấy chưa phải tất cả, bởi lẽ bản thân từ jiyū vốn đã mang một nghĩa tiêu cực.

Tuesday, July 14, 2026

Emily Dickinson - 487/474 - [Mi yêu Chúa – mi không thấy đặng]

 (Johnson 487/Franklin 474) 

Mi yêu Chúa – mi không thấy đặng –
Mi viết cho Người – mọi ngày –
Một mẩu thư – lúc mi tỉnh thức –
Rồi sau đó trong Ngày.

Một bức Thư Dài dặc – mi nhớ dường bao –
Và vui thích dường nào khi thấy –
Nhưng rồi Nhà Người – cách chỉ một Bước –
Và Nhà Ta – chốn Thiên đàng – Mi sẽ thấy.

— Emily Dickinson

Sunday, July 5, 2026

Emily Dickinson - 675/772 - [Dầu tinh chất được vắt]

(Johnson 675 / Franklin 772)

Dầu tinh chất – được vắt –
Thức tinh du từ Hoa hồng
Nào được ép ra do Mặt trời – mà thôi –
Nó là món quà của đinh ốc –

Hoa hồng Thông thường – mục rữa –
Nhưng thứ này – ở tấm áo lót Quý bà
Làm nên mùa Hạ – khi Quý bà nằm giữa
Đám lá hương thảo ngát toả khôn nguôi –

— Emily Dickinson

Saturday, June 27, 2026

Umberto Saba - Goal

Năm bài thơ dành cho trận bóng ấy (5): Goal 

Thủ môn sụp xuống sau lần cứu đỡ
hoài công vừa qua, mặt úp xuống sân,
đặng không phải thấy cảnh tượng buốt lòng.
Đồng đội khuỵu bên, lời thốt tay đưa
gắng sức vực anh đứng thẳng dậy,
bỗng thấy anh giàn giụa nước mắt.

Đám đông – một khối cuồng mê – tuồng như
tràn vào sân. Quanh kẻ ghi bàn ấy
lao tới quàng cổ là những người anh em.
Nào có mấy thời khắc hoàn mĩ dường này,
dưới ánh dương, lại được trao cho
những kẻ đương đắm trong hận và yêu.

Thủ môn đàng kia lưu lại kề bên
mành lưới chưa rung. Nhưng hồn thời không –
chỉ mỗi tấm thân tại đó một mình.
Cơn sướng khoái lộn trên không một vòng,
rồi gửi gắm đi mấy nụ hôn xa.
Cuộc vui này – anh nói – tôi cũng dự phần.

— Umberto Saba

Saturday, May 23, 2026

Bắc Đảo - Đến nơi

Đến nơi

thuở đó tôi hãy còn tuổi nhỏ
nhọc mệt giống như một chiếc bình
đợi chờ cơn nộ dâng lên

à cơn nộ của tháng năm

ánh lửa hổ thẹn a đêm đen còn mãi
ở trong sách ra sinh vào tử
bậc thánh đà mở bày ý nghĩa của mùa đông

à ý nghĩa của xuất phát

bao nức nở tụ hội ngẩng đầu lên
thét một tiếng lớn
bị chúa sót quên rồi

— Bắc Đảo

Monday, May 18, 2026

Louise Glück - Telemachus li cách

Telemachus li cách

Thuở còn nhỏ lúc tôi nhìn
vào đời cha mẹ, bạn biết
tôi đã nghĩ gì không? Tôi đã nghĩ
thật thương tâm. Giờ tôi nghĩ
thật thương tâm, mà lại còn
loạn trí. Lại còn
rất buồn cười.

— Louise Glück

Sunday, May 17, 2026

Emily Dickinson - 1680/1727 - [Tấm lòng thời đôi khi]

Tấm lòng thời đôi khi
Tâm hồn thời hãn hữu
Tận sức thời chỉ muôn một
Hiếm ít – yêu hoàn toàn

— Emily Dickinson

Saturday, May 16, 2026

Seamus Heaney - Tháng Năm

Tháng Năm 

Lần ấy trên cầu tôi nhìn xuống
Đám cá hồi đương lật tung trời
Tan thành nhiều mảnh, mấy phiến đá
Bờ tường làm ấm người tôi.

Lội giữa các thân cây xanh rì, các vành lá
Lơi ra và thâm bầm
(Các giếng phun tí hon toàn nhựa)
Mũi giày tôi giờ lấp lánh.

Bên trên cái thóp mềm
Của Ái-nhĩ-lan, tôi nên mang
Giày da thú, lớp lông kề da thịt,
Mà dạo bước khu đất này:

Chẳng phải giếng khoáng kia sao,
Thành lan phủ cỏ, dáng rủ nhoài?
Đoạn thời mạch suối trào tuôn ra
Băng băng ngang mặt nhựa đường.

Tôi quyết kiếm tìm ngôi làng nọ,
Mấy bậu cửa thấp ngát thơm
Nào cúc cu hoa nào hoàng liên hoa,
Cùng ngọn ma trơi trong bóng đêm hè.

— Seamus Heaney
     (Wintering Out, 1972)

Wednesday, May 6, 2026

Philip Larkin - Những khiêm nhường



Những khiêm nhường
 

Từ ngữ đơn sơ như đôi cánh chim mái
Nó không dối lừa,
Nó không quá tay đi thêu dệt các cái –
Quá đỗi nhát đời.

Ý nghĩ nó lê la khắp tựa tiền đồng
Qua từng triều đại,
Mòn hao thành ra nghĩa rất mực giản đơn,
Ấy vẫn còn lại.

Cỏ dại nào đâu được phép mọc thêm ra,
Nhưng từng chút một
Có mấy thứ trở nên hoa, dẫu cho
Không ai thấy.

— Philip Larkin

Philip Larkin - Máy cắt

Máy cắt

Máy cắt đứng khựng, hai bận; quỳ xuống, tôi thấy
Con nhím gai kẹt khít vào lưỡi dao,
Chết tươi. Nó đã ở trong đám cỏ cao.

Tôi đã gặp nó dạo trước, còn cho nó ăn, một bận.
Giờ tôi cào nát cõi sống khuất kín ấy
Không sao chữa đặng. Đem chôn cất chẳng ích chi:

Sáng hôm sau tôi thức dậy còn nó thời không.
Ngày thứ nhất sau một cái chết, cảnh thiếu vắng mới
Vẫn luôn là như thế; ta phải nên biết giữ

Cho nhau, ta nên ân cần
Khi thời gian còn đó.

— Philip Larkin